Việc xây dựng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được kỳ vọng tạo hành lang pháp lý để chuyển bản sắc văn hóa thành tài sản trí tuệ, chuyển tài sản trí tuệ thành dòng tiền; qua đó hình thành những sản phẩm mang thương hiệu Việt Nam, có khả năng cạnh tranh và lan tỏa trên thị trường quốc tế.
Khơi thông giá trị kinh tế của sáng tạo
Nghệ thuật TP Hồ Chí Minh mang trọn đặc trưng của hệ giá trị văn hóa Nam bộ với tính mở và năng lực thích ứng cao. Ảnh: Hữu Duyên/TTXVN
Trong bối cảnh cạnh tranh giữa các nền văn hóa ngày càng rõ nét, công nghiệp văn hóa không chỉ là lĩnh vực bảo tồn, truyền bá các giá trị tinh thần mà đã trở thành ngành kinh tế quan trọng tại nhiều quốc gia. Giá trị của một bộ phim, chương trình truyền hình, tác phẩm âm nhạc, trò chơi điện tử, thiết kế, sản phẩm thủ công hay điểm đến văn hóa không chỉ nằm ở sản phẩm đầu tiên mà còn ở khả năng khai thác quyền, phát triển sản phẩm phái sinh, cấp phép thương mại và đưa nội dung đến nhiều thị trường.
Tại Việt Nam, tỷ trọng đóng góp của công nghiệp văn hóa trong GDP giai đoạn 2018-2025 ước đạt khoảng 4-5%, còn khoảng cách đáng kể so với mục tiêu tối thiểu 7% vào năm 2030. Một trong những nguyên nhân là chuỗi giá trị chưa được kết nối đồng bộ. Hoạt động sáng tạo chưa gắn chặt với quyền sở hữu trí tuệ; quyền chưa dễ dàng chuyển thành tài sản; tài sản khó tiếp cận vốn; trong khi sản phẩm sau khi hình thành còn thiếu hệ thống phân phối, thương mại hóa và xuất khẩu đủ mạnh.
Các luật chuyên ngành hiện hành đã tạo hành lang pháp lý tương đối đầy đủ cho việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, chính sách thúc đẩy giá trị kinh tế của quyền còn thiếu và phân tán. Không ít tác phẩm đã được bảo hộ nhưng chưa có hồ sơ tài sản đầy đủ, chưa được thẩm định giá, chưa thể sử dụng để huy động vốn hoặc giao dịch minh bạch.
Từ thực tiễn đó, dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa xác định tài sản trí tuệ là một yếu tố quan trọng để tạo giá trị gia tăng và mở đường cho các sản phẩm phái sinh. Đây cũng là “vốn gốc” giúp một ý tưởng không dừng lại ở sản phẩm đơn lẻ mà có thể phát triển thành thương hiệu, hệ sinh thái nội dung và dòng doanh thu lâu dài.
Góp ý cho dự thảo luật, Tiến sỹ Ngô Đắc Thuần, Chủ tịch IP Group cho rằng, tài sản trí tuệ là “xương sống” của các tổ chức sáng tạo. Khi thành quả sáng tạo được bảo vệ và quản trị tốt, tác giả, nhà sáng tạo có cơ sở nhận thù lao tương xứng; doanh nghiệp có thể tiếp tục phát triển các phiên bản, sản phẩm phái sinh và hình thành chuỗi giá trị kinh tế.
Theo Tiến sỹ Ngô Đắc Thuần, dự thảo luật cần làm rõ hơn sự khác biệt và mối liên hệ giữa bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ với “tài sản hóa” trí tuệ. Thực tế, nhiều tổ chức, doanh nghiệp mới chú trọng đăng ký hoặc ghi nhận quyền mà chưa quan tâm đầy đủ đến việc rà soát, đóng gói, thẩm định giá và đưa tài sản trí tuệ vào hoạt động đầu tư, kinh doanh. “Tài sản trí tuệ, các quyền sở hữu trí tuệ chỉ có giá trị khi được thương mại hóa, được đưa vào sổ sách kế toán, báo cáo tài chính và được nhìn nhận là một khoản đầu tư thay vì chỉ là chi phí”, Tiến sỹ Ngô Đắc Thuần phân tích.
Một điểm nghẽn khác là năng lực thẩm định giá. Giá trị tài sản trí tuệ phụ thuộc vào chất lượng nội dung, mức độ nhận diện, phạm vi quyền, khả năng khai thác thị trường và tiềm năng phát triển sản phẩm phái sinh. Trong khi pháp luật về giá đã có những quy định liên quan, thị trường vẫn thiếu đội ngũ thẩm định viên, tổ chức chuyên sâu và hệ thống dữ liệu tham chiếu đủ độ tin cậy.
Theo Luật sư Trần Quốc Bảo, Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh, cần phân biệt thẩm định giá tài sản trí tuệ với định giá sản phẩm trước khi bán. Thẩm định giá nhằm xác định giá trị của từng đối tượng quyền, tạo cơ sở ghi nhận tài sản cố định vô hình trong sổ sách kế toán, báo cáo tài chính hoặc sử dụng tài sản trí tuệ để góp vốn, hợp tác kinh doanh. Chủ sở hữu có thể tham gia liên doanh bằng quyền tác giả, sáng chế, kiểu dáng hoặc những quyền tài sản hợp pháp khác, thay vì chỉ góp vốn bằng tiền và tài sản hữu hình.
Do đó, dự thảo luật đặt ra yêu cầu hoàn thiện phương pháp, tiêu chuẩn, hướng dẫn kỹ thuật và cơ sở dữ liệu theo thông lệ quốc tế; thử nghiệm mô hình thẩm định giá đối với tài sản trí tuệ mới; đào tạo chuyên sâu cho thẩm định viên, chuyên gia sở hữu trí tuệ, luật sư, kiểm toán viên, chuyên gia tài chính và tổ chức tín dụng. Khi tài sản được thẩm định giá phù hợp, quyền sở hữu trí tuệ mới có điều kiện trở thành vốn góp, đối tượng đầu tư hoặc hàng hóa được giao dịch trên thị trường.
Việc xây dựng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa vì vậy không thay thế Luật Sở hữu trí tuệ hay các luật chuyên ngành mà hướng tới xử lý những điểm mờ, khoảng trống và điểm nghẽn trong tổ chức thực hiện; đồng thời kết nối quyền sở hữu trí tuệ với vốn, sản xuất, phân phối, doanh thu, tái đầu tư và xuất khẩu.
Bảo vệ “vốn gốc” trên môi trường số
Ba tác phẩm 3D mapping gồm “Âm vang Đại Việt”, “Nửa thế kỷ tự hào - Nhịp đập Sài Gòn” và “Kỷ nguyên vươn mình” được trình chiếu trên nền kiến trúc mặt tiền trụ sở UBND TP. Hồ Chí Minh. Ảnh: Hồng Đạt/TTXVN
Chuyển đổi số đang làm thay đổi toàn bộ quá trình sáng tạo, sản xuất, phân phối và tiêu dùng sản phẩm văn hóa. Một tác phẩm có thể tiếp cận hàng triệu người trong thời gian ngắn nhưng cũng có thể bị sao chép, chỉnh sửa và khai thác trái phép với tốc độ tương tự. Đặc biệt sự phát triển của trí tuệ nhân tạo (AI) tạo tiếp tục đặt ra những câu hỏi mới về nguồn dữ liệu, tính nguyên gốc, quyền tác giả và mức độ đóng góp của con người.
Tiến sỹ Ngô Đắc Thuần cho rằng, trước khi số hóa quy trình hoặc chuyển đổi số, tổ chức cần rà soát và đóng gói tài sản trí tuệ. Nếu không xác định rõ mình đang sở hữu tài sản nào, quyền thuộc về ai và được khai thác trong phạm vi nào, quá trình số hóa có thể làm gia tăng nguy cơ phát tán tài sản mà tổ chức chưa có cơ chế bảo vệ.
Vì vậy, dự thảo luật cần làm rõ nguyên tắc minh bạch đối với sản phẩm văn hóa có sử dụng AI. Người sáng tạo cần xác định phần nội dung do mình trực tiếp thực hiện, phần được hình thành với sự hỗ trợ của AI và những dữ liệu, tư liệu đã tham khảo hoặc khai thác. Việc dẫn nguồn và công khai cách sử dụng AI là căn cứ đánh giá tính nguyên gốc, mức độ đóng góp sáng tạo của con người và nguy cơ xâm phạm quyền của bên thứ ba.
Du lịch văn hóa cũng là không gian quan trọng để tài sản trí tuệ được chuyển hóa thành sản phẩm và “xuất khẩu tại chỗ”. Theo ông Võ Anh Tài, Phó Tổng Giám đốc Tổng Công ty Du lịch Sài Gòn (Saigontourist), du lịch cần được định vị là lĩnh vực tích hợp, tạo đầu ra cho di sản, ẩm thực, nghệ thuật biểu diễn, thủ công mỹ nghệ, thiết kế, điện ảnh, lễ hội và nhiều sản phẩm sáng tạo.
Một di sản chỉ thực sự tham gia chuỗi giá trị khi được kể thành câu chuyện, tổ chức thành điểm đến, kết nối với lưu trú, ẩm thực, lữ hành, truyền thông và phân phối. Vì vậy, luật cần tạo cơ chế để doanh nghiệp đầu tư tour, tuyến, chương trình nghệ thuật, trải nghiệm ban đêm, bảo tàng, lễ hội, nội dung số và sản phẩm lưu niệm gắn với di sản nhưng không thương mại hóa thô các giá trị nguyên gốc.
Phó Chủ tịch UBND Thành phố Hồ Chí Minh Nguyễn Mạnh Cường cho rằng, Luật Phát triển công nghiệp văn hóa cần có cách tiếp cận mở đối với sự giao thoa giữa văn hóa, công nghệ, kinh tế số và trí tuệ nhân tạo, tạo dư địa pháp lý cho các mô hình kinh doanh, phương thức sang tạo, phân phối và tiêu dùng các sản phẩm văn hóa mới. “Thành phố đang tập trung xây dựng hệ sinh thái công nghiệp văn hóa theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại và có sức cạnh tranh trong khu vực. Tại đây đang từng bước hình thành những mô hình, phương pháp hoạt động mới, qua đó đặt ra những yêu cầu ngày càng rõ hơn về cơ chế, chính sách và hành lang pháp lý. Vì vậy, chúng tôi cho rằng cần thiết kế luật theo hướng kiến tạo thay vì chỉ là công cụ quản lý”, ông Nguyễn Mạnh Cường nhấn mạnh.
Khi tài sản trí tuệ thực sự trở thành vốn, người sáng tạo có thể sống bằng thành quả của mình, doanh nghiệp có cơ sở đầu tư dài hạn và các tổ chức tài chính có thêm căn cứ để cung cấp vốn. Quan trọng hơn, những câu chuyện, hình tượng, di sản và tri thức của Việt Nam sẽ không chỉ được bảo tồn trong không gian truyền thống mà còn tiếp tục sống trong phim ảnh, âm nhạc, thiết kế, trò chơi, du lịch và sản phẩm số.
Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, vì thế, được kỳ vọng tạo nền tảng để bảo vệ tốt hơn “vốn gốc”; đồng thời mở đường cho nguồn vốn ấy sinh sôi trong đời sống kinh tế. Khi bản sắc được chuyển thành tài sản trí tuệ, tài sản được quản trị theo chuỗi giá trị và quyền sở hữu trí tuệ được thực thi hiệu quả, Việt Nam mới có điều kiện hình thành những thương hiệu văn hóa đủ mạnh, vừa đóng góp cho tăng trưởng vừa đưa hình ảnh và sức mạnh mềm quốc gia lan tỏa xa hơn.