Những đột phá trong Nghị quyết 28 và gỡ ‘nút thắt’ về phát triển văn hóa

Các chuyên gia, nhà quản lý văn hóa cho rằng, nút thắt lớn nhất trong phát triển văn hóa vẫn là thực thi. Chính sách có thể rất mở, nhưng khi xuống cơ sở chúng ta vẫn thấy quản lý bằng tư duy cũ, vẫn sợ trách nhiệm, vẫn xin - cho, vẫn coi an toàn thủ tục quan trọng hơn hiệu quả sáng tạo thì chính sách mới rất dễ bị “cũ hóa” trong quá trình thực hiện.

Chú thích ảnh
Du khách nước ngoài tham gia trải nghiệm thực hành đồ xôi theo phương thức truyền thống của dồng bào dân tộc Mường (Thanh Hóa).

Nghị quyết 28 tạo ra một hệ sinh thái chính sách tương đối đồng bộ

Theo PGS. TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên là Đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, đột phá lớn nhất của Nghị quyết 28/2026/QH16 về phát triển văn hóa Việt Nam không nằm ở một chính sách riêng lẻ, mà ở chỗ chúng ta đã bắt đầu tạo ra một hệ sinh thái chính sách tương đối đồng bộ cho phát triển văn hóa. Trước đây, khó khăn của văn hóa thường được nhìn từng mảnh: thiếu ngân sách thì bổ sung ngân sách; nghệ sĩ khó khăn thì nghĩ đến chế độ; công nghiệp văn hóa yếu thì bàn về ưu đãi doanh nghiệp. Nghị quyết lần này tiếp cận rộng hơn, từ ngân sách, đất đai, thuế, đầu tư, công nghiệp văn hóa đến nghệ nhân, nghệ sĩ, di sản và hạ tầng văn hóa số.

Đặc biệt, việc quy định Nhà nước bảo đảm chi cho văn hóa hằng năm tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước có ý nghĩa rất lớn. Khi trình dự thảo Nghị quyết, Chính phủ cũng xác định đây là một trong những chính sách quan trọng để tạo nguồn lực ổn định hơn cho văn hóa. Nhưng tôi cho rằng điều quan trọng hơn con số 2% là sự thay đổi tư duy: đầu tư cho văn hóa không phải khoản chi sau khi chúng ta đã giải quyết xong những việc khác, mà là đầu tư trực tiếp cho năng lực phát triển của đất nước.

Cùng với đó, những cơ chế về Quỹ văn hóa, nghệ thuật, ưu đãi cho công nghiệp văn hóa, thí điểm đô thị di sản hay phát triển hạ tầng văn hóa số cho thấy chúng ta đang chuyển từ tư duy chủ yếu “Nhà nước cấp tiền để làm văn hóa” sang tạo điều kiện để Nhà nước, thị trường, doanh nghiệp và xã hội cùng tham gia. Chính phủ cũng đã ban hành kế hoạch triển khai Nghị quyết 28 và các nghị định cụ thể hóa về nghệ thuật biểu diễn, văn hóa dân tộc thiểu số, hạ tầng văn hóa số, đô thị di sản…

PGS. TS Bùi Hoài Sơn lấy ví dụ, Quỹ văn hóa, nghệ thuật được thiết kế theo hướng có thể chấp nhận rủi ro. Nhưng sáng tạo vốn dĩ không phải dự án nào cũng thành công. Nếu một dự án không thành công về thị trường lập tức bị xem là làm thất thoát ngân sách thì sẽ không ai dám đầu tư cho những ý tưởng mới. Ngược lại, nói “chấp nhận rủi ro” mà không có tiêu chí minh bạch thì cũng có thể trở thành kẽ hở cho lợi ích nhóm.

Vì thế, cái chúng ta cần sau Nghị quyết 28 là một năng lực quản trị mới đối với văn hóa: dám trao quyền nhưng phải đo được kết quả; chấp nhận thử nghiệm nhưng phải minh bạch; tạo không gian cho sáng tạo nhưng phải có trách nhiệm giải trình.

“Tôi vẫn nghĩ rằng một chính sách văn hóa chỉ thực sự thành công khi người nghệ sĩ cảm thấy mình có thêm cơ hội sáng tạo, nghệ nhân có thêm người kế tục, doanh nghiệp thấy đáng để đầu tư, cộng đồng được hưởng lợi và người dân có thêm những sản phẩm văn hóa tốt. Nếu những điều ấy chưa xảy ra thì dù văn bản rất tiến bộ, chúng ta vẫn chưa thể nói điểm nghẽn đã được tháo gỡ”, PGS. TS Bùi Hoài Sơn nói.

Chú thích ảnh
Du khách nước ngoài tập làm nghề dệt thổ cẩm.

Cần có cơ chế công khai, giám sát và hậu kiểm

Có ý kiến cho rằng, Nghị quyết 28 quy định chi cho văn hóa tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước, đồng thời mở ra ưu đãi thuế và thí điểm Quỹ văn hóa, nghệ thuật theo mô hình chấp nhận rủi ro. Nhưng cần có cơ chế công khai, giám sát và hậu kiểm như thế nào để nguồn lực thực sự đi vào sáng tạo, con người và sản phẩm văn hóa, thay vì chủ yếu chảy vào công trình hoặc bị lợi dụng dưới danh nghĩa đầu tư văn hóa.

PGS, TS Bùi Hoài Sơn cho rằng, đây chính là câu hỏi quyết định hiệu quả của chính sách. Chúng ta rất cần tăng đầu tư cho văn hóa, nhưng tăng tiền chưa đương nhiên đồng nghĩa với tăng sức mạnh văn hóa. Nếu nguồn lực chủ yếu tiếp tục đi vào xây dựng trụ sở, nhà văn hóa, công trình hoành tráng mà thiếu tiền cho nội dung, cho nghệ sĩ, cho hoạt động sáng tạo, cho vận hành và phát triển công chúng thì rất có thể chúng ta có thêm thiết chế nhưng chưa chắc có thêm đời sống văn hóa.

Vì vậy, trước hết cần thay đổi cách lập ngân sách văn hóa. PGS. TS Bùi Hoài Sơn cho rằng phải nhìn rõ ít nhất ba dòng nguồn lực: Đầu tư cho hạ tầng; đầu tư cho con người; và đầu tư cho nội dung, sản phẩm sáng tạo. Ba lĩnh vực đều cần thiết nhưng phải có sự cân đối. Không nên để phần dễ nhìn thấy nhất là công trình vật chất chiếm gần như toàn bộ không gian đầu tư.

Tiếp đó là phải chuyển dần từ cấp tiền theo đầu vào sang đặt hàng và đánh giá theo kết quả. Một dự án được đầu tư không chỉ báo cáo đã tổ chức bao nhiêu chương trình, chi bao nhiêu tiền mà phải trả lời: Có bao nhiêu công chúng được tiếp cận; có tạo ra tác phẩm mới không; có phát hiện tài năng trẻ không; có khả năng tồn tại sau khi ngân sách kết thúc không; tác động xã hội như thế nào.

PGS, TS Bùi Hoài Sơn cho rằng: Đối với Quỹ văn hóa, nghệ thuật, theo tôi cần một cơ chế quản trị tương đối độc lập, chuyên nghiệp, có hội đồng gồm những người hiểu nghệ thuật, thị trường, tài chính và công nghệ. Việc lựa chọn dự án phải thông qua tiêu chí được công khai; kết quả xét chọn, số tiền đầu tư, mục tiêu của dự án và kết quả sau đầu tư cũng cần được công khai ở mức phù hợp.

Nhưng một điều rất quan trọng là phải phân biệt giữa rủi ro sáng tạo và sai phạm quản lý. Một bộ phim được đầu tư nhưng không thành công về doanh thu chưa chắc đã là thất bại về chính sách; một dự án thử nghiệm công nghệ mới thất bại cũng chưa chắc là lãng phí. Đó có thể là rủi ro chấp nhận được của đổi mới sáng tạo. Điều phải xử lý là gian dối hồ sơ, xung đột lợi ích, nâng khống chi phí, chia dự án cho người quen hay sử dụng danh nghĩa văn hóa để hưởng ưu đãi.

Do đó, thay vì kiểm soát quá chặt từ đầu khiến người làm văn hóa không dám sáng tạo, chúng ta cần công khai mạnh hơn, hậu kiểm tốt hơn và xử lý nghiêm hơn khi có sai phạm.

Tôi đặc biệt cho rằng cần xây dựng một hệ thống dữ liệu công khai về đầu tư văn hóa: địa phương nào chi bao nhiêu, chi vào đâu, dự án nào được hỗ trợ, kết quả như thế nào. Khi người dân, báo chí, giới chuyên môn và cơ quan dân cử cùng có thể giám sát thì đó là cách phòng chống trục lợi rất hiệu quả.
Nói cách khác, chúng ta phải làm sao để đồng tiền đầu tư cho văn hóa được nhìn thấy không chỉ trong những tòa nhà mới, mà trong những tác phẩm mới, những tài năng mới, những doanh nghiệp sáng tạo mới và những công chúng mới. Đó mới là thước đo quan trọng nhất của 2% ngân sách dành cho văn hóa.

Bài, ảnh: V.Tôn/Báo Tin tức và Dân tộc
Khi văn hóa trở thành nguồn lực kinh tế
Khi văn hóa trở thành nguồn lực kinh tế

Từ những nếp nhà trình tường dưới chân Cột cờ quốc gia Lũng Cú, ruộng bậc thang Hoàng Su Phì đến tiếng then, làn điệu cọi, nghề dệt lanh và những lễ hội truyền thống, kho tàng văn hóa đa dạng đang mở ra dư địa phát triển mới cho Tuyên Quang.

Chia sẻ:

doanh nghiệp - Sản phẩm - Dịch vụ

Các đơn vị thông tin của TTXVN