Các đại biểu đề xuất nhiều giải pháp tháo gỡ vướng mắc trong quản lý, sử dụng đất có nguồn gốc nông, lâm trường; giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số và thúc đẩy tích tụ, cho thuê đất nông nghiệp.
Đại biểu Trịnh Thị Tú Anh (Đoàn Lâm Đồng): Bàn giao đất nông, lâm trường cần giải quyết dứt điểm vướng mắc pháp lý
Quang cảnh phiên họp, sáng 21/8. Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN
Về quản lý sử dụng nguồn đất có nguồn gốc từ nông, lâm trường quốc doanh quy định tại Điều 83, dự thảo Luật quy định rà soát hiện trạng sử dụng đất để xác định phần diện tích các công ty nông, lâm nghiệp được tiếp tục sử dụng và phần diện tích bàn giao về địa phương để giao đất, cho thuê đất hoặc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người dân.
Thực tế tại nhiều địa phương, trong đó có tỉnh Lâm Đồng, đất có nguồn gốc nông, lâm trường rất phức tạp, tranh chấp, lấn chiếm, giao khoán sai đối tượng, lấn chồng ranh giới, thiếu hồ sơ hoặc không xác định rõ nguồn gốc sử dụng. Nếu chỉ bàn giao nguyên trạng mà không đồng thời xác định rõ trách nhiệm pháp lý của từng cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan thì địa phương có thể nhận đất nhưng đồng thời nhận cả một khối lượng rất lớn về các vấn đề về pháp lý mà chưa được giải quyết. Khi đó, mục tiêu cấp giấy chứng nhận đất cho người dân lại tiếp tục bị ách tắc.
Đề nghị bổ sung quy định cụ thể về trách nhiệm của UBND cấp tỉnh và các cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc rà soát, xác định ranh giới, hiện trạng, nguồn gốc đất, xử lý hồ sơ chồng lấn và các tranh chấp đất trước khi bàn giao.
Đại biểu Lý Thị Lan (Đoàn Tuyên Quang): Kết nối quỹ đất nông, lâm trường với chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số
Đại biểu Quốc hội tỉnh Tuyên Quang Lý Thị Lan phát biểu. Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN
Về quy định chính sách giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số, qua khảo sát tại địa phương cho thấy, nhu cầu hỗ trợ đất ở, đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số là rất lớn, nhưng kết quả thực hiện trong giai đoạn 2021-2025 rất thấp, trong đó trên 95% nhu cầu về đất ở và gần 99% nhu cầu về đất sản xuất chưa được giải quyết.
Tuy nhiên, qua khảo sát thực tế, cần phân biệt rõ hai tình trạng: những hộ thực sự không có hoặc thiếu đất ở, đất sản xuất; những hộ không phải không có đất, mà là đã sinh sống, sản xuất ổn định từ lâu nhưng chưa được xác lập quyền sử dụng đất hợp pháp.
Nhóm thứ hai khá phổ biến ở địa bàn miền núi vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Có những điểm dân cư đã hình thành qua nhiều năm ở những nơi gắn với nương rẫy và sinh kế, nhưng đất có nguồn gốc từ nông, lâm trường chưa được giải quyết dứt điểm, hồ sơ địa chính chưa đầy đủ, ranh giới chưa rõ, hoặc hiện trạng sử dụng đất chồng lấn với quy hoạch lâm nghiệp. Vì vậy, người dân có đất sử dụng trên thực tế nhưng chưa có quyền pháp lý đối với đất. Điều này khiến người dân gặp khó khăn trong việc tiếp cận tín dụng, chính sách về nhà ở, hỗ trợ sinh kế và một số chính sách an sinh khác.
Do đó, cần đặt Điều 15 trong mối quan hệ trực tiếp với Điều 83 về quản lý, sử dụng đất có nguồn gốc đất từ nông, lâm trường. Như vậy, Điều 15 quy định chính sách giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số; Điều 83 xử lý một nguồn đất có khả năng tạo thành quỹ đất để thực hiện chính sách. Điểm còn thiếu đó là cơ chế kết nối hai điều này. Làm thế nào để từ đất được thu hồi, bàn giao theo Điều 83 trở thành quỹ đất đủ điều kiện pháp lý để thực hiện Điều 15, đồng thời giải quyết được quyền của những hộ đang sử dụng đất ổn định, đủ điều kiện nhưng chưa được xác lập quyền sử dụng đất.
Việc này cần xử lý trên nguyên tắc rõ ràng: không hợp thức, không hợp thức hóa sai phạm, nhưng cũng không để những tồn tại lịch sử qua nhiều thời kỳ tiếp tục trở thành rào cản đối với quyền lợi chính đáng của người dân.
Do đó, đề nghị rà soát Điều 15 và Điều 83 theo hướng có sự kết nối rõ về chính sách và nguồn đất; đồng thời giao Chính phủ quy định cơ chế xử lý các tồn tại lịch sử đối với đất có nguồn gốc từ nông, lâm trường, trong đó có các trường hợp sử dụng hiện trạng đất không thống nhất với hồ sơ, quy hoạch qua nhiều thời kỳ.
Cùng với đó, cần quy định rõ tiêu chí để phân loại, xử lý đối với hộ gia đình, cá nhân đã sinh sống, sản xuất ổn định nhưng chưa được xác lập quyền sử dụng đất; phân biệt với những trường hợp lấn chiếm, vi phạm mới phát sinh để vừa đảm bảo quyền lợi chính đáng của người dân, vừa giữ nghiêm kỷ cương quản lý đất đai và yêu cầu bảo vệ rừng.
Về cơ chế xác định rõ trách nhiệm thực hiện, Trung ương quy định cơ chế và tiêu chí, cấp tỉnh phải rà soát, xử lý pháp lý đối với quỹ đất được bàn giao, xác định diện tích có thể bố trí đất ở, đất sản xuất; cấp xã rà soát đến từng hộ, xác định nguồn gốc, hiện trạng sử dụng và nhu cầu thực tế. Phải có một chuỗi trách nhiệm rõ thì chính sách mới thực sự đi đến được với người dân.
Đại biểu Lê Đào An Xuân (Đoàn Đắk Lắk): Gỡ rào cản tích tụ, hình thành thị trường cho thuê đất nông nghiệp
Đại biểu Quốc hội tỉnh Đắk Lắk Lê Đào An Xuân phát biểu. Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN
Đề nghị thiết kế lại Điều 28 về điều kiện thực hiện các quyền theo hướng giảm tiền kiểm, tăng hậu kiểm đối với nhận chuyển nhượng đất nông nghiệp. Khoản 7, Khoản 8 Điều 28 yêu cầu tổ chức kinh tế nhận chuyển nhượng đất nông nghiệp phải có phương án sử dụng đất được chấp thuận. Cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp nếu nhận đất trồng lúa vượt hạn mức cũng phải thành lập tổ chức kinh tế và có phương án được phê duyệt.
Nếu mọi trường hợp đều phải xin chấp thuận phương án thì rất dễ phát sinh một dạng thủ tục hành chính tiền kiểm và tạo cơ chế xin - cho, nhất là khi chưa có tiêu chí rõ ràng để đánh giá một phương án sử dụng đất là đạt hay không đạt.
Theo đó, đề nghị chỉ yêu cầu phương án sử dụng đất khi diện tích vượt một ngưỡng nhất định, ví dụ là từ 50 ha, hoặc đối với một số đất, một số loại đất như là đất trồng lúa, đất lâm nghiệp hoặc với một số khu vực nhạy cảm, vùng sản xuất tập trung quy mô lớn. Đồng thời, không nên coi việc thành lập doanh nghiệp là thước đo hiệu quả sử dụng đất. Nếu cá nhân, hộ kinh doanh, tổ hợp tác, hợp tác xã chứng minh được năng lực tài chính, khả năng sử dụng đất hiệu quả thì đều có thể nhận quyền sử dụng đất quy mô lớn.
Bên cạnh đó, cần xem xét lại hạn mức trần 15 lần tại Điều 81. Đất lúa, đất cây lâu năm, đất chăn nuôi hay đất phục vụ nông nghiệp công nghệ cao thì có sự khác nhau rất lớn. Nếu quy định chung một mức trần là chưa phù hợp với tinh thần Nghị quyết 21 là phải tính đến điều kiện từng vùng miền, địa phương. Đề nghị không ấn định cứng một mức trần 15 lần trong luật, mà giao Chính phủ quy định khung tiêu chí, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định hạn mức loại đất theo điều kiện tự nhiên, mô hình sản xuất và yêu cầu bảo đảm sinh kế.
Ngoài ra, cần hình thành thị trường cho thuê quyền sử dụng đất nông nghiệp. Điều 85 thì mới dừng ở việc liệt kê phương thức, nguyên tắc tập trung đất nông nghiệp, chưa tạo ra thiết chế cho một thị trường cho thuê. Trong thực tiễn, một doanh nghiệp muốn hình thành vùng nguyên liệu thì rất cần có một cơ chế để xác định thửa đất nào sẵn sàng cho thuê, thời hạn, giá thuê, hạ tầng, tình trạng pháp lý, cách thức xử lý tài sản đầu tư trên đất hoặc cơ chế giải quyết khi chủ đất chấm dứt hợp đồng giữa kỳ.
Vì vậy, đề nghị bổ sung sau Điều 85 một điều riêng về phát triển thị trường cho thuê quyền sử dụng đất nông nghiệp; quy định nguyên tắc đăng ký cung - cầu thuê đất trên Hệ thống thông tin quốc gia về đất đai; cho phép tổ chức phát triển quỹ đất, hợp tác xã hoặc tổ chức đủ điều kiện làm trung gian tập hợp người thuê và quy định rõ quyền đầu tư, sở hữu, xử lý công trình, hạ tầng sản xuất trên đất thuê, cơ chế điều chỉnh giá thuê và trả lại đất khi hết hạn. Cùng với đó cần bảo đảm người thuê đất dài hạn có đủ an toàn pháp lý để đầu tư vào sản xuất. Khi chấm dứt hợp đồng thì có cơ chế chuyển giao, tháo gỡ hoặc bồi thường, bồi hoàn rõ ràng.
Đồng thời, cần luật hóa việc đăng ký giao dịch điện tử khi cho thuê đất nông nghiệp. Hiện nay, nhà nước có thể biết được ai đứng tên trên Giấy chứng nhận nhưng nhiều khi không biết được ai đang thực tế sử dụng đất. Theo đó, đề nghị các hợp đồng thuê đất từ một thời hạn nhất định, ví dụ là từ 5 năm, hoặc quy mô nhất định như là từ 50 ha trở lên phải được đăng ký điện tử với các thông tin dữ liệu tối thiểu. Điều này giúp quản lý không gian nông nghiệp tốt hơn, biết được nơi nào đang được tích tụ sử dụng hiệu quả, nơi nào bỏ hoang, nơi nào giá đất biến động bất thường hoặc là có hiện tượng đầu cơ.
Tại Đắk Lắk, không gian sản xuất nông nghiệp lớn, đa dạng, với hơn 200.000 ha cà phê, 75.000 ha lúa, gần 50.000 ha mía và hơn 40.000 ha sầu riêng... Việc sớm phát triển thị trường thuê đất nông nghiệp như một cấu phần độc lập của thị trường quyền sử dụng đất, với mục tiêu dịch chuyển sang phương thức sử dụng đất hiệu quả hơn nhưng không nhất thiết người nông dân phải mất đất.
Nếu làm được như vậy thì đất đai thực sự trở thành nguồn lực cho tái cơ cấu nông nghiệp, thúc đẩy sản xuất quy mô lớn, phát triển chuỗi giá trị và nâng cao thu nhập cho người dân.