Thời điểm 'vàng' để tái định vị thị trường vốn Việt Nam

Sau hơn hai thập kỷ tăng trưởng dựa chủ yếu vào tín dụng ngân hàng và dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), thị trường vốn Việt Nam đang bước vào thời điểm bản lề.

Chú thích ảnh
Nhà đầu tư theo dõi diễn biến thị trường chứng khoán tại Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE).

Triển vọng nâng hạng tín nhiệm quốc gia lên mức “Đầu tư”, cùng lộ trình nâng hạng thị trường chứng khoán và kế hoạch xây dựng Trung tâm Tài chính quốc tế đang đồng thời mở ra “cú hích” mang tính cấu trúc. Những chuyển động này không chỉ thúc đẩy thị trường vốn trở thành kênh dẫn vốn trung và dài hạn chủ lực, mà còn tạo nền tảng để Việt Nam gia tăng sức hút với dòng vốn toàn cầu và nâng tầm vị thế trong hệ thống tài chính quốc tế.

“Tấm hộ chiếu” bước vào sân chơi vốn toàn cầu 

Một trong những tín hiệu tích cực nhất đến từ tiến trình cải thiện tín nhiệm quốc gia. Cuối tháng 1/2026, Tổ chức Xếp hạng tín nhiệm Fitch Ratings đã chính thức nâng xếp hạng tín nhiệm đối với các công cụ nợ dài hạn cao cấp có bảo đảm của Việt Nam từ mức BB+ lên BBB-, đánh dấu lần đầu tiên một công cụ nợ liên quan đến quốc gia của Việt Nam đạt ngưỡng “Đầu tư” (investment grade). 

Diễn biến này cho thấy Việt Nam đang tiến rất gần tới việc đạt mức xếp hạng tín nhiệm quốc gia thuộc nhóm “Đầu tư” - một cột mốc mang ý nghĩa quan trọng không chỉ về mặt biểu tượng mà còn đối với khả năng tiếp cận dòng vốn toàn cầu.

Theo ông Michael Kokalari, Giám đốc Phân tích kinh tế vĩ mô và Nghiên cứu thị trường của VinaCapital, việc đạt được xếp hạng tín nhiệm quốc gia mức “Đầu tư” là một trong những động lực quan trọng nhất thúc đẩy sự phát triển của thị trường vốn Việt Nam. Điều này sẽ giúp mở rộng tệp nhà đầu tư đủ tiêu chuẩn và có khả năng tài trợ cho các dự án hạ tầng quy mô lớn (như các quỹ hưu trí, công ty bảo hiểm và quỹ đầu tư quốc gia). 

Đáng chú ý, nhiều nhà đầu tư trong số này có thể cung cấp nguồn vốn với chi phí thấp hơn trong bối cảnh Việt Nam hiện đang có mức chi phí nợ và chi phí vốn cổ phần thuộc hàng cao nhất trong khu vực. Các chuyên gia phân tích ước tính việc nâng hạng có thể giúp giảm chi phí vay vốn tới 150 điểm cơ bản, nhờ vào việc lợi suất trái phiếu Chính phủ giảm và chênh lệch tín dụng được thu hẹp, từ đó kéo giảm đáng kể chi phí vốn trên toàn bộ nền kinh tế.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, việc đạt tín nhiệm “Đầu tư” thường kéo theo sự gia tăng mạnh mẽ của dòng vốn vào thị trường tài chính. Các quốc gia như Ấn Độ hay Thái Lan đã ghi nhận sự bùng nổ của thị trường chứng khoán và dòng vốn quốc tế sau khi được nâng hạng tín nhiệm, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong nhiều năm sau đó.

Trên cơ sở đó, Việt Nam đang tập trung tháo gỡ các nút thắt còn tồn đọng nhằm tiến tới đạt mức xếp hạng tín nhiệm “Đầu tư” từ ba tổ chức xếp hạng tín nhiệm lớn gồm S&P Global, Moody’s và Fitch. Ba trụ cột trong kế hoạch nâng hạng của Chính phủ bao gồm: quản lý nợ công thận trọng; triển khai các chính sách thúc đẩy tăng trưởng song song với bảo đảm ổn định các cân đối vĩ mô; và tăng cường trao đổi, làm việc với các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế.

Song song với tiến trình nâng hạng tín nhiệm quốc gia, Việt Nam cũng đang đẩy nhanh lộ trình nâng hạng thị trường chứng khoán theo tiêu chuẩn của FTSE Russell và MSCI. Đây là bước đi quan trọng nhằm đưa Việt Nam ra khỏi nhóm thị trường cận biên - nơi dòng vốn còn hạn chế để gia nhập nhóm thị trường mới nổi, vốn thu hút phần lớn dòng vốn đầu tư toàn cầu.

Theo ông Huỳnh Anh Tuấn, Tổng Giám đốc Công ty Chứng khoán Ngân hàng Số Vikki, nâng hạng thị trường chứng khoán không chỉ mang ý nghĩa danh xưng, mà là sự công nhận về chất lượng vận hành và mức độ trưởng thành của thị trường. 

Các dự báo cho thấy khi được nâng hạng, Việt Nam có thể thu hút khoảng 1 tỷ USD dòng vốn thụ động từ các quỹ ETF ngay trong giai đoạn đầu, và trong trung hạn, dòng vốn chủ động từ các quỹ đầu tư lớn có thể đạt từ 10 đến 20 tỷ USD.

Quan trọng hơn, các dòng vốn này thường có tính dài hạn và ổn định, góp phần giảm biến động thị trường và hỗ trợ doanh nghiệp huy động vốn hiệu quả hơn. Đây là yếu tố đặc biệt quan trọng trong bối cảnh Việt Nam cần nguồn vốn lớn để tài trợ cho các dự án hạ tầng, năng lượng và chuyển đổi số.

Sự kết hợp giữa nâng hạng tín nhiệm quốc gia và nâng hạng thị trường chứng khoán tạo thành “đòn bẩy kép”, góp phần tái định giá rủi ro quốc gia, đồng thời mở rộng quy mô và cải thiện chất lượng dòng vốn. 

Bệ phóng cho giai đoạn phát triển mới

Trong khi nâng hạng tín nhiệm và thị trường giúp mở rộng khả năng thu hút dòng vốn, việc xây dựng Trung tâm Tài chính quốc tế tại Việt Nam sẽ đóng vai trò là nền tảng thể chế để phân bổ hiệu quả nguồn lực đó.

Trước kỳ nghỉ Tết Bính Ngọ, Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại TP Hồ Chí Minh (VIFC-HCMC) chính thức được ra mắt. Đây là một trong 2 cấu phần của Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam (VIFC) được thành lập theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 của Quốc hội ngày 27/6/2025, với mô hình "một trung tâm, hai điểm đến", cùng với cơ sở tại TP. Đà Nẵng. Mô hình này được kỳ vọng sẽ thúc đẩy kết nối sâu hơn giữa Việt Nam và hệ thống tài chính toàn cầu, đồng thời tạo nền tảng huy động nguồn lực cho các mục tiêu phát triển dài hạn.

Trả lời phỏng vấn TTXVN xoay quanh vai trò của VIFC, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Hòa Bình, Chủ tịch Hội đồng điều hành VIFC nhấn mạnh rằng Trung tâm Tài chính quốc tế là một giải pháp đột phá, một “cú hích” mạnh mẽ đối với nền kinh tế trong bối cảnh hiện nay qua nhiều phương diện.

Theo Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Hòa Bình, Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam (VIFC) là một trong những hành trang quan trọng để đất nước tự tin bước vào kỷ nguyên phát triển mới. Đây là cấu phần không thể thiếu trong tổng thể các giải pháp chiến lược nhằm tạo lập các động lực tăng trưởng mới, góp phần nâng cao quy mô và vị thế của nền kinh tế, đồng thời tăng cường năng lực cạnh tranh quốc gia trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng.

Đặc biệt, VIFC được kỳ vọng trở thành kênh huy động và dẫn vốn hiệu quả cho nền kinh tế, giúp kết nối trực tiếp nguồn lực tài chính toàn cầu với nhu cầu phát triển trong nước. 

Theo Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Hòa Bình, nhu cầu vốn cho giai đoạn phát triển mới của Việt Nam là rất lớn, nhất là đối với các dự án trọng điểm quốc gia như đường sắt tốc độ cao, năng lượng tái tạo, điện hạt nhân, trung tâm dữ liệu và các hạ tầng chiến lược khác. Việc hình thành Trung tâm Tài chính quốc tế sẽ tạo điều kiện thuận lợi để huy động các nguồn vốn dài hạn, chi phí hợp lý, qua đó bảo đảm nguồn lực tài chính bền vững cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chuyển đổi mô hình tăng trưởng của nền kinh tế.

Đối với thị trường tài chính, việc hình thành Trung tâm Tài chính quốc tế cũng sẽ thúc đẩy cải cách thể chế, nâng cao tiêu chuẩn minh bạch và quản trị, đồng thời tạo điều kiện cho sự phát triển của các sản phẩm tài chính mới. Đây là những yếu tố quan trọng để nâng cao sức cạnh tranh của thị trường tài chính Việt Nam trong khu vực.

Sự hội tụ của nâng hạng tín nhiệm, nâng hạng thị trường chứng khoán và xây dựng Trung tâm Tài chính quốc tế đang tạo ra một thời điểm mang tính bước ngoặt đối với thị trường vốn Việt Nam. Tuy nhiên, để tận dụng hiệu quả cơ hội này, các chuyên gia cho rằng việc cải cách thị trường vốn cần được triển khai một cách đồng bộ và nhất quán.

Các ưu tiên bao gồm nâng cao tính minh bạch và chuẩn mực quản trị doanh nghiệp, cải thiện khả năng tiếp cận của nhà đầu tư nước ngoài, phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp và tiếp tục hiện đại hóa hạ tầng giao dịch. Đồng thời, việc xây dựng một khung pháp lý phù hợp với các xu hướng mới như tài chính xanh, tài sản số và tài chính số cũng sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao sức hấp dẫn của thị trường.

Nếu những cải cách này được thực hiện hiệu quả, thị trường vốn Việt Nam có thể bước vào một giai đoạn phát triển mới, trở thành kênh huy động và phân bổ vốn chủ lực cho nền kinh tế. Khi đó, Việt Nam không chỉ nâng cao khả năng thu hút dòng vốn quốc tế, mà còn củng cố nền tảng tài chính cho mục tiêu tăng trưởng dài hạn.

Bài và ảnh: Hứa Chung (TTXVN)
Nhu cầu vốn xanh lên tới 700 tỷ USD, ngân hàng cần sự "hợp lực" của thị trường vốn
Nhu cầu vốn xanh lên tới 700 tỷ USD, ngân hàng cần sự "hợp lực" của thị trường vốn

Tại Hội thảo “Đa dạng vốn cho phát triển bền vững” do Báo Tài chính Đầu tư tổ chức ngày 15/12, Phó Thống Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) Nguyễn Ngọc Cảnh cho biết, tính đến 30/11 dư nợ tín dụng xanh đạt khoảng 750.000 tỷ đồng, tăng trưởng bình quân 21%/năm giai đoạn 2017 - 2025 (cao hơn mức tăng trưởng dư nợ tín dụng chung của cả nền kinh tế).

Chia sẻ:

doanh nghiệp - Sản phẩm - Dịch vụ

Các đơn vị thông tin của TTXVN