Sơ chế trái thanh long để đóng gói xuất khẩu tại Bình Thuận. Xuất khẩu là động lực tăng trưởng GDP hàng đầu của Việt Nam. Ảnh: Hồng Nhung/TTXVN
Trên thực tế, việc kiên định mục tiêu này đã được thể hiện rõ trong các quan điểm chỉ đạo. Ngày 2/4, Tổng Bí thư Tô Lâm ký ban hành Kết luận số 18-KL/TW Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026 - 2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng "2 con số".
Kết luận số 18-KL/TW nêu rõ: Quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, các nghị quyết, kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư để phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng "2 con số" gắn với ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế. Kiên định mục tiêu, hành động quyết liệt, hiệu quả; đánh giá sát tình hình, linh hoạt các giải pháp vượt qua khó khăn của năm 2026, bứt phá trong giai đoạn 2027 - 2030.
Phát biểu tại lễ nhậm chức, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng nhấn mạnh: "Quyết tâm, nỗ lực cao nhất điều hành nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng cao và bền vững. Mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân trên 10%/năm giai đoạn 2026-2031 là mệnh lệnh phát triển để hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược của đất nước".
GDP quý 1/2026 đạt 7,83%, ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng so với cùng kỳ năm 2025 (7,07%). Kết quả này tạo nền tảng vững chắc cho mục tiêu phát triển cả năm 2026 khi bối cảnh toàn cầu còn nhiều biến động đan xen, đặc biệt là căng thẳng xung đột tại Trung Đông. Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), để bù đắp phần thiếu hụt của quý I và hướng tới mục tiêu tăng trưởng 2 con số cho cả năm 2026, nền kinh tế phải rất nỗ lực trong các quý sau với các quý có tăng trưởng trên 10,5%, cụ thể: Quý II: GDP ước đạt 10,5%; quý III: GDP ước đạt 10,6%; quý IV: GDP ước đạt 10,74%.
Với kịch bản này, Cục Thống kê kỳ vọng tăng trưởng dựa trên sự tăng tốc của xuất khẩu, phục hồi mạnh mẽ của sức mua nội địa, cùng với đóng góp ngày càng rõ nét của các lĩnh vực kinh tế mới như công nghệ bán dẫn và kinh tế xanh. Đồng thời cần tháo gỡ triệt để các rào cản pháp lý, đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công và khơi thông hiệu quả dòng vốn đầu tư tư nhân. Ngoài ra, xung đột Trung Đông sớm chấm dứt và giá dầu bình ổn trở lại cũng là điều kiện cần để đảm bảo tăng trưởng kinh tế có thể tiệm cận mục tiêu đặt ra.
"Việt Nam nhiều khả năng tiếp tục là một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất châu Á trong những năm tới, chỉ đứng sau Ấn Độ". Đây là nhận định của S&P Global Ratings tại hội nghị tổ chức ngày 2/4 ở Hà Nội. Đáng chú ý, đánh giá của S&P Global Ratings được đưa ra trong bối cảnh kinh tế thế giới chịu tác động đồng thời từ xung đột địa chính trị tại Trung Đông, gián đoạn chuỗi cung ứng và áp lực chi phí năng lượng gia tăng. Trong môi trường nhiều “cơn gió ngược” như vậy, việc Việt Nam vẫn duy trì được vị thế tăng trưởng cao cho thấy sự cải thiện đáng kể về nền tảng vĩ mô cũng như khả năng thích ứng của nền kinh tế.
Cùng với việc duy trì quan điểm tích cực về kinh tế Việt Nam, các tổ chức quốc tế đồng thời ghi nhận vai trò ngày càng rõ nét của khu vực sản xuất công nghiệp và xuất khẩu công nghệ cao. Việt Nam đang hưởng lợi từ xu hướng tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu, khi nhiều doanh nghiệp quốc tế dịch chuyển sản xuất nhằm đa dạng hóa rủi ro. Nhờ đó, cơ cấu xuất khẩu chuyển dịch theo hướng gia tăng tỷ trọng các sản phẩm điện tử, thiết bị công nghệ, qua đó nâng cao giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh.
Không chỉ xuất khẩu, các động lực tăng trưởng trong nước cũng đang trở nên cân bằng hơn. Theo HSBC, lợi thế của Việt Nam không chỉ nằm ở chi phí cạnh tranh, mà còn ở mức độ hội nhập sâu vào chuỗi cung ứng khu vực, đặc biệt trong lĩnh vực bán dẫn và điện tử. Việc tiếp tục củng cố vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu, đồng thời chủ động xây dựng các kịch bản ứng phó với rủi ro thương mại, sẽ là chìa khóa để duy trì đà tăng trưởng trong trung hạn.
Một khía cạnh đáng chú ý khác là khả năng nâng cao “chất lượng tăng trưởng” trong giai đoạn tới. Không chỉ dừng lại ở tốc độ, nền kinh tế đang chuyển dịch theo hướng dựa nhiều hơn vào năng suất, đổi mới sáng tạo và giá trị gia tăng. Điều này thể hiện qua việc thu hút dòng vốn FDI ngày càng có chọn lọc, tập trung vào các lĩnh vực công nghệ cao, năng lượng sạch và sản xuất thông minh, thay vì các ngành thâm dụng lao động như trước.
Bên cạnh đó, quá trình phát triển hạ tầng - đặc biệt là hạ tầng giao thông, logistics và năng lượng - đang được đẩy mạnh, được xem là “đòn bẩy” quan trọng cho tăng trưởng trung và dài hạn.
Thêm vào đó, điểm tích cực được nhiều tổ chức quốc tế nhấn mạnh là dư địa chính sách của Việt Nam vẫn còn tương đối lớn. Việc phối hợp linh hoạt giữa chính sách tài khóa và tiền tệ được xem là yếu tố then chốt giúp nền kinh tế duy trì ổn định trong bối cảnh biến động. Kiểm soát lạm phát, giữ vững tỷ giá và đảm bảo dòng vốn tín dụng hướng vào khu vực sản xuất - kinh doanh sẽ là nền tảng để củng cố niềm tin của thị trường và nhà đầu tư.
Như nhận định của bà Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê (Bộ Tài chính), nếu các động lực tăng trưởng được kích hoạt mạnh mẽ và đồng bộ trong các quý còn lại, vẫn có cơ sở để bám sát mục tiêu đã đề ra. Vấn đề còn lại là mức độ quyết liệt trong tổ chức thực hiện và khả năng chuyển hóa quyết tâm thành kết quả cụ thể trong từng quý, từng ngành và từng lĩnh vực.