Không chỉ mang lại giá trị kinh tế vượt trội, Đề án 1 triệu ha lúa còn là minh chứng cho cam kết mạnh mẽ của Việt Nam trong việc chuyển đổi sản xuất nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu và giảm phát thải khí nhà kính.
Dù mới triển khai từ cuối năm 2023, Đề án đã đạt được những con số ấn tượng với tổng diện tích canh tác là 350.839 ha, vượt 197% so với mục tiêu ban đầu.
Những con số "biết nói" từ thực địa
Được phê duyệt tại Quyết định số 1490/QĐ-TTg ngày 27/11/2023 về việc phê duyệt Đề án "Phát triển bền vững một triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030 Đề án 1 triệu ha lúa được kỳ vọng là bước ngoặt chiến lược cho "vựa lúa" lớn nhất cả nước. Sau giai đoạn khởi động, diện tích thực hiện các mô hình thí điểm đã ghi nhận sự tăng trưởng ấn tượng.
Theo báo cáo từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường, từ quy mô khiêm tốn 302 ha vào năm 2024 tại An Giang, Vĩnh Long và Cần Thơ, diện tích thí điểm đã tăng lên 1.950 ha năm 2025 và dự kiến đạt khoảng 10.300 ha trong vụ Đông Xuân 2025 - 2026. Đáng chú ý, diện tích nhân rộng canh tác theo quy trình bền vững hiện đã đạt 380.629 ha, chiếm 83,2% kế hoạch năm 2026.
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Thanh Nam đánh giá, dù mới triển khai từ cuối năm 2023, Đề án đã đạt được những con số ấn tượng với tổng diện tích canh tác đạt 350.839 ha, vượt 197% so với mục tiêu ban đầu đề ra cho giai đoạn này là 180.000 ha.
Sự thay đổi về chất lượng còn được thể hiện qua việc rà soát diện tích. Hiện có 5/6 địa phương (An Giang, Tây Ninh, Vĩnh Long, Cần Thơ, Cà Mau) đã chính thức phê duyệt kế hoạch triển khai đến năm 2030 với tổng diện tích đăng ký đạt 869.013 ha. Mặc dù con số này giảm nhẹ so với đăng ký ban đầu (gần 940.000 ha), nhưng điều này cho thấy các địa phương đang chuyển hướng từ số lượng sang chất lượng, tập trung vào những vùng đủ điều kiện về hạ tầng thủy lợi và khả năng liên kết chuỗi.
Kết quả từ các mô hình thí điểm đã chứng minh tính ưu việt của quy trình canh tác mới so với phương thức truyền thống. Về mặt kinh tế, chi phí sản xuất giảm từ 8,2% đến 24,2%, trong khi năng suất lúa tăng từ 2,4% đến 7%.
Sự sụt giảm đáng kể chi phí đầu vào là yếu tố then chốt. Lượng lúa giống gieo sạ giảm mạnh từ mức 120 - 200 kg/ha xuống chỉ còn 70 kg/ha. Cùng với đó, lượng phân bón giảm 30%, lượng thuốc bảo vệ thực vật cũng giảm đáng kể từ 2 - 3 lần phun mỗi vụ. Nhờ tiết giảm chi phí và giá bán lúa được doanh nghiệp bao tiêu cao hơn từ 200 - 300 đồng/kg, lợi nhuận của nông dân tăng thêm từ 4 - 7,6 triệu đồng/ha.
Sau hai năm thực hiện "Đề án 1 triệu ha lúa", lượng lúa giống gieo sạ giảm từ mức 120 - 200 kg/ha xuống chỉ còn 70 kg/ha.
"Gạo từ mô hình được doanh nghiệp thu mua với giá cao hơn bên ngoài do đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu gạo giảm phát thải, mở ra triển vọng nâng cao giá trị thương hiệu Gạo Việt Nam trên trường quốc tế", ông Lê Hữu Toàn, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường An Giang nhận định.
Song song với hiệu quả kinh tế, thành tựu về môi trường là điểm sáng nổi bật. Các mô hình ghi nhận mức giảm phát thải trung bình từ 3 - 4,6 tấn CO2/ha/vụ. Tại một số địa phương như An Giang, con số này thậm chí đạt tới 7,5 tấn CO2/ha. Đây là cơ sở khoa học để Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành Quy trình thí điểm đo đạc, báo cáo và thẩm định (MRV) vào tháng 11/2025. Hiện đã có hơn 15.500 ha với gần 10.000 hộ nông dân đăng ký tham gia cơ chế chi trả giảm phát thải từ Quỹ Tài chính TCAF, mở ra nguồn thu nhập mới từ tín chỉ carbon.
Để đạt được sự thay đổi tư duy này, công tác đào tạo đã được Trung tâm Khuyến nông Quốc gia triển khai quyết liệt đến các địa phương, nông dân. 465 lớp tập huấn đã được tổ chức cho khoảng 23.000 học viên về quản trị hợp tác xã và kỹ thuật canh tác giảm phát thải. Lực lượng khuyến nông cộng đồng đóng vai trò là "cánh tay nối dài", thực hiện phương châm "3 cùng" (cùng suy nghĩ, cùng hành động, cùng phát triển) để đồng hành với nông dân trên từng thửa ruộng.
Thách thức và lộ trình hướng tới tương lai
Hệ thống đo phát thải tại ruộng tham gia "Đề án 1 triệu ha lúa".
Mặc dù đạt được những kết quả khả quan, hành trình hiện thực hóa 1 triệu ha lúa vẫn đối mặt với nhiều rào cản. Ông Ngô Thái Chân, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Cần Thơ khẳng định, Đề án 1 triệu ha lúa là hướng đi đúng đắn, giúp thay đổi nhận thức người trồng lúa từ "tăng năng suất" sang "tăng giá trị". Tuy nhiên, quá trình triển khai vẫn còn 5 hạn chế chính, hệ thống hạ tầng thủy lợi, giao thông nội đồng tại một số vùng chưa đồng bộ; dịch vụ cơ giới hóa, đặc biệt là khâu thu gom, xử lý rơm rạ còn hạn chế; năng lực quản trị, ứng dụng công nghệ số của một bộ phận hợp tác xã còn yếu; việc tiếp cận tín dụng phục vụ sản xuất còn khó khăn; liên kết tiêu thụ tuy đã hình thành nhưng chưa thực sự bền vững; số lượng doanh nghiệp tham gia còn khiêm tốn.
Từ thực tế trên, để thực hiện hiệu quả đề án giai đoạn 2026 - 2030, ông Ngô Thái Chân đề xuất với Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tiếp tục quan tâm hỗ trợ kỹ thuật và kinh phí để thực hiện dự án đầu tư hạ tầng cho Đề án 1 triệu ha, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người trồng lúa. Chỉ đạo các cơ quan chuyên môn hướng dẫn thủ tục chứng nhận lúa đạt tiêu chuẩn phát thải thấp và chứng nhận doanh nghiệp tham gia vùng sản xuất lúa chất lượng cao.
Để Đề án 1 triệu ha lúa thành công bền vững, ông Lê Hữu Toàn, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang kiến nghị cần sớm phê duyệt và đầu tư đồng bộ kết cấu hạ tầng cho các vùng chuyên canh để ứng dụng khoa học kỹ thuật và bảo vệ môi trường. Tập trung xây dựng thương hiệu "Gạo Việt Nam" gắn với tiêu chuẩn gạo xanh, giảm phát thải để nâng cao giá trị xuất khẩu (hiện đã xuất thử nghiệm thành công sang Nhật Bản và Trung Đông).
Thiết bị cảm biến thông minh tự động quan trắc mực nước mặt ruộng và độ ẩm đất.
Bước sang giai đoạn 2 (2026 - 2030), trọng tâm của Đề án 1 triệu ha lúa là đầu tư hoàn thiện cơ sở hạ tầng và mở rộng thêm 820.000 ha lúa chất lượng cao. Các bộ, ngành đang tích cực phối hợp với Ngân hàng Thế giới (WB) để triển khai dự án hỗ trợ hạ tầng kỹ thuật bằng nguồn vốn vay IBRD.
Bà Mariam J. Sherman, Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam, khẳng định các mô hình đã được chứng minh hiệu quả thực tế và WB sẵn sàng cung cấp các khoản tài trợ, hỗ trợ kỹ thuật. Tuy nhiên, bà cũng lưu ý Việt Nam cần khẩn trương hoàn thiện các báo cáo nghiên cứu khả thi để tận dụng tối đa nguồn vốn viện trợ toàn cầu đang ngày càng khan hiếm.
Ông Bùi Bá Bổng, Chủ tịch Hiệp hội ngành hàng lúa gạo Việt Nam nhận định, Đề án 1 triệu ha lúa thể hiện tính tiên phong của Việt Nam về sản xuất lúa giảm phát thải. Để thành công bền vững, cần nâng cao niềm tin và sự thống nhất trong toàn bộ hệ thống chính trị, từ Trung ương đến địa phương, để hiện thực hóa Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIV về chuyển đổi xanh.
Thành công của Đề án 1 triệu ha lúa không chỉ dừng lại ở những con số về diện tích hay sản lượng, mà là một cuộc cách mạng xanh, khẳng định vị thế của Việt Nam là một quốc gia sản xuất lúa gạo có trách nhiệm, minh bạch và bền vững trên bản đồ nông nghiệp thế giới.