Tái cấu trúc không gian phát triển vùng theo hướng liên kết thị trường

Đại hội XIV của Đảng đặt mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân trên 10%/năm giai đoạn 2026 - 2030. Để hiện thực hóa mục tiêu này, các chuyên gia cho rằng cùng với đổi mới thể chế, khoa học công nghệ và chuyển đổi số, việc tổ chức lại không gian phát triển vùng đang trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm tạo dư địa tăng trưởng mới cho nền kinh tế.

Từ "phép cộng hành chính" đến tư duy liên kết vùng

Trong nhiều năm, phát triển vùng ở Việt Nam chủ yếu được nhìn nhận dưới góc độ quản lý hành chính. Cách tiếp cận này góp phần bảo đảm quản lý nhà nước nhưng cũng bộc lộ không ít hạn chế khi nền kinh tế bước sang giai đoạn phát triển mới với yêu cầu liên kết vùng, hình thành chuỗi giá trị và phát huy lợi thế của từng địa phương.

Theo TS. Nguyễn Đình Chúc (Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới), vùng không chỉ là một đơn vị địa lý mà là một hệ thống phát triển có ranh giới động, trong đó các mối liên kết kinh tế, xã hội, hạ tầng và môi trường luôn thay đổi theo quá trình phát triển. Vì vậy, tư duy phát triển vùng cần chuyển từ "quản lý địa giới" sang "quản trị không gian phát triển", lấy liên kết, tích hợp và tạo động lực tăng trưởng làm trọng tâm.

Chú thích ảnh
Các lần phân vùng từ nghiên cứu của TS Nguyễn Đình Chúc.

Theo cách tiếp cận này, không gian phát triển không chỉ bao gồm yếu tố địa lý mà còn là sự kết hợp của nhiều lớp không gian khác nhau như hạ tầng vật lý, không gian số, không gian biển, hệ sinh thái và không gian văn hóa - xã hội. Những lớp không gian này vừa độc lập vừa đan xen, tạo nên nền tảng cho sự phát triển của từng vùng và của cả quốc gia.

Việt Nam đã nhiều lần điều chỉnh cách phân vùng phát triển trong gần 50 năm qua. Từ mô hình 7 vùng sau năm 1976, đến 4 vùng lớn đầu thập niên 1980, rồi 8 vùng trong thời kỳ đổi mới và 6 vùng kinh tế - xã hội trước năm 2025. Mỗi lần điều chỉnh đều gắn với yêu cầu phát triển của từng giai đoạn. Tuy nhiên, khi nền kinh tế ngày càng hội nhập sâu rộng, mô hình cũ dần bộc lộ nhiều bất cập.

Theo phân tích trong nghiên cứu, hệ thống 6 vùng trước đây chưa phản ánh đầy đủ sự hình thành của các chuỗi giá trị mới; liên kết nội vùng còn lỏng lẻo; nhiều địa phương cạnh tranh thu hút đầu tư thay vì bổ trợ lẫn nhau. Không ít vùng có quy mô quá lớn hoặc kéo dài hàng nghìn km, gây khó khăn cho điều phối và làm giảm hiệu quả phát triển theo quy mô.

Đáng chú ý, cơ chế điều phối vùng còn mang tính hình thức khi thiếu thẩm quyền về tài chính, nhân sự cũng như công cụ điều phối các dự án liên vùng. Điều này khiến ranh giới hành chính nhiều khi lấn át logic kinh tế trong quá trình phát triển.

Những thay đổi lớn về thể chế trong giai đoạn 2025 - 2026 đã mở ra cơ hội tái cấu trúc không gian phát triển. Việc thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh từ 63 xuống còn 34 tỉnh, thành phố, cùng với điều chỉnh Quy hoạch tổng thể quốc gia và quy hoạch các vùng đã tạo nền tảng pháp lý cho việc hình thành sáu không gian kinh tế - xã hội mới.

Theo TS. Nguyễn Đình Chúc, điểm cốt lõi của lần điều chỉnh này không nằm ở việc thay đổi địa giới hành chính mà là thay đổi tư duy tổ chức không gian phát triển, hướng tới khai thác tốt hơn lợi thế của từng vùng và tăng cường kết nối giữa các vùng.

Sáu vùng với những vai trò mới

Sau khi sắp xếp đơn vị hành chính, Việt Nam vẫn duy trì sáu vùng kinh tế - xã hội nhưng cấu trúc đã có nhiều thay đổi. Trong đó, vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên được hợp nhất thành một không gian phát triển mới; số vùng có biển tăng từ bốn lên năm; Tây Nguyên lần đầu tiên được kết nối trực tiếp với duyên hải, mở rộng khả năng tiếp cận kinh tế biển và logistics.

Theo nghiên cứu, những thay đổi này tạo điều kiện hình thành các chuỗi liên kết mới giữa cao nguyên, duyên hải và biển Đông thông qua các hành lang giao thông Đông - Tây, góp phần giảm tình trạng phát triển biệt lập của khu vực Tây Nguyên.

Chú thích ảnh
TS Nguyễn Đình Chúc trình bày nghiên cứu liên kết phân vùng tạo động lực không gian tăng trưởng mới.

Trong cấu trúc mới, Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ tiếp tục được xác định là hai cực tăng trưởng của cả nước. Đồng bằng sông Hồng được định hướng trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo, phát triển trí tuệ nhân tạo, bán dẫn và sản xuất thông minh, đồng thời giữ vai trò cửa ngõ hội nhập quốc tế ở phía Bắc. Trong khi đó, Đông Nam Bộ tiếp tục là trung tâm tài chính, công nghệ cao và logistics với hạt nhân là TP Hồ Chí Minh cùng hệ thống cảng biển và hạ tầng hiện đại.

Đối với Đồng bằng sông Hồng, định hướng phát triển tập trung vào xây dựng trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia với các ngành công nghệ mũi nhọn như trí tuệ nhân tạo (AI), bán dẫn, robot và sản xuất thông minh. Hà Nội tiếp tục đóng vai trò trung tâm kết nối toàn cầu, trong khi Hải Phòng và Quảng Ninh được kỳ vọng trở thành động lực phát triển kinh tế biển, logistics và hạ tầng số.

Trong khi đó, Đông Nam Bộ được xác định là cực tăng trưởng lớn nhất về tài chính và công nghệ cao. TP Hồ Chí Minh sẽ phát triển thành trung tâm tài chính quốc tế, kết nối với các dự án chiến lược như Cảng Cái Mép - Thị Vải, Cần Giờ và Cảng hàng không quốc tế Long Thành để hình thành chuỗi logistics, hàng hải, công nghiệp vi mạch và kinh tế không gian tầm thấp.

Theo TS. Nguyễn Đình Chúc, hai vùng này không chỉ là "đầu tàu" về quy mô kinh tế mà còn phải trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo, nơi lan tỏa công nghệ, nhân lực chất lượng cao và mô hình tăng trưởng mới tới các vùng còn lại.

Điểm mới trong cách tiếp cận lần này là mỗi vùng được định vị với một chức năng phát triển riêng thay vì cùng theo đuổi một mô hình tăng trưởng.

Bắc Trung Bộ được xác định là vùng chuyển tiếp chiến lược giữa phía Bắc và miền Trung, phát triển công nghiệp nặng, năng lượng và logistics. Các khu vực như Nghi Sơn, Vũng Áng hay Chân Mây - Lăng Cô được kỳ vọng trở thành cửa ngõ ra biển của các nước trong tiểu vùng sông Mekong, đồng thời tạo hành lang giao thương mới giữa Việt Nam với Lào và Đông Bắc Thái Lan. Huế được định hướng trở thành trung tâm văn hóa, giáo dục, y tế chuyên sâu của khu vực.

Trong khi đó, việc hợp nhất Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên tạo nên một không gian phát triển hoàn toàn mới với trục liên kết "Biển - Cao nguyên - Biên giới". Đây được xem là một trong những thay đổi quan trọng nhất của quá trình tái cấu trúc không gian vùng.

Theo nghiên cứu, Tây Nguyên không còn ở vị trí "đất liền không biển" như trước đây mà được kết nối trực tiếp với hệ thống cảng biển, logistics và các hành lang kinh tế Đông - Tây. Điều này tạo điều kiện để khai thác hiệu quả hơn các lợi thế về nông nghiệp công nghệ cao, khoáng sản, năng lượng tái tạo cũng như mở rộng khả năng tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu.

Đối với Đồng bằng sông Cửu Long, trọng tâm không còn chỉ là "vựa lúa" của cả nước mà chuyển mạnh sang phát triển nông nghiệp sinh thái, kinh tế tuần hoàn, nông nghiệp số và thích ứng biến đổi khí hậu. Cùng với đó là phát triển kinh tế biển, logistics và du lịch biển đảo nhằm khai thác hiệu quả lợi thế của vùng cửa ngõ phía Nam.

Ở phía Bắc, vùng Trung du và miền núi phía Bắc được xác định giữ vai trò cửa ngõ kết nối đất liền với Trung Quốc, ASEAN và xa hơn là Trung Á, châu Âu thông qua hệ thống cửa khẩu quốc tế và đường sắt. Đồng thời, đây cũng là khu vực có vai trò đặc biệt về bảo vệ sinh thái đầu nguồn, an ninh nguồn nước, phát triển lâm nghiệp và khai thác khoáng sản chiến lược.

Việc phân định lại không gian vùng chỉ là điều kiện cần. Điều quan trọng hơn là phải tạo ra được các chuỗi liên kết kinh tế giữa các địa phương, thay vì phát triển riêng lẻ như trước đây.

Mục tiêu đến năm 2030 cho thấy, Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ tiếp tục dẫn đầu về tốc độ tăng trưởng, quy mô GRDP bình quân đầu người và tỷ trọng kinh tế số. Tuy nhiên, các vùng còn lại cũng được kỳ vọng nâng cao tốc độ tăng trưởng, thu hẹp khoảng cách phát triển thông qua phát huy lợi thế riêng và tăng cường kết nối liên vùng.

Theo các chuyên gia, điều đó cũng đồng nghĩa với việc tư duy phát triển cần chuyển từ cạnh tranh giữa các địa phương sang hợp tác phát triển theo chuỗi giá trị. Khi mỗi vùng đảm nhận một chức năng khác nhau nhưng bổ trợ cho nhau, không gian phát triển mới sẽ không còn là "phép cộng hành chính" mà trở thành một mạng lưới liên kết, tạo động lực tăng trưởng bền vững cho nền kinh tế trong giai đoạn tới.

Bài, ảnh: XM/Báo Tin tức và Dân tộc
Địa phương còn lúng túng trong triển khai phát triển khoa học công nghệ
Địa phương còn lúng túng trong triển khai phát triển khoa học công nghệ

Việc triển khai các nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo (KH,CN&ĐMST) tại nhiều địa phương đang bộc lộ không ít bất cập, từ xác định nhiệm vụ chưa sát thực tiễn, chạy theo các xu hướng công nghệ, đến thiếu liên kết với doanh nghiệp và thị trường.

Chia sẻ:

doanh nghiệp - Sản phẩm - Dịch vụ

Các đơn vị thông tin của TTXVN