Mở khóa thể chế để đánh thức nội lực - Bài 1: Gỡ nút thắt thể chế, mở đường cho dòng chảy phát triển

Trong tiến trình đổi mới, thể chế và pháp luật luôn giữ vai trò nền tảng đối với phát triển kinh tế - xã hội.

Chú thích ảnh
Hoạt động tại Cục Thuế Hà Nội. Ảnh: TTXVN phát

Trong giai đoạn hiện nay, khi đất nước bước vào thời kỳ hội nhập sâu rộng, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và cạnh tranh phát triển ngày càng gay gắt, yêu cầu đặt ra đối với thể chế không còn dừng ở việc “quản lý cho đúng”, mà phải “mở đường cho phát triển”. Một hệ thống pháp luật rõ ràng, minh bạch, ổn định, có khả năng dự báo và được thực thi thống nhất sẽ khơi thông nguồn lực, củng cố niềm tin của người dân, doanh nghiệp. Ngược lại, những quy định chồng chéo, thủ tục rườm rà, trách nhiệm không rõ, thực thi thiếu nhất quán có thể biến thể chế từ động lực thành rào cản. 

Chùm bài: “Mở khóa thể chế để đánh thức nội lực” đã tập trung phân tích thực tiễn, nêu bật thành tựu và đề xuất giải pháp để hoàn thiện thể chế thực sự trở thành động lực phát triển đất nước.

Bài 1: Gỡ nút thắt thể chế, mở đường cho dòng chảy phát triển

Hệ thống pháp luật Việt Nam đã có bước phát triển dài, tạo nền tảng cho đổi mới, hội nhập và tăng trưởng. Tuy nhiên, trong bối cảnh kinh tế số, chuyển đổi xanh, mô hình kinh doanh mới và yêu cầu tinh gọn bộ máy đang diễn ra nhanh, những bất cập về thể chế cũng hiện rõ hơn. Vấn đề không chỉ là còn thiếu quy định, mà là chất lượng quy định, tính đồng bộ giữa các luật, khả năng tổ chức thực thi và mức độ thuận lợi mà người dân, doanh nghiệp cảm nhận được trong đời sống. Từ doanh nghiệp đến cơ quan thi hành án, từ đại biểu Quốc hội đến chính quyền cơ sở, cùng một thông điệp được nhấn mạnh: Thể chế muốn trở thành động lực thì phải rõ ràng, dễ thực hiện, minh bạch và nhất quán.

Gỡ “nút thắt” thể chế 

Trong nhiều năm qua, Việt Nam liên tục sửa đổi, bổ sung, ban hành mới nhiều đạo luật để đáp ứng yêu cầu phát triển. Đây là chuyển động tích cực, nhưng thực tiễn cũng cho thấy, số lượng văn bản nhiều hơn không đồng nghĩa với môi trường pháp lý thông suốt hơn. Khi quy định thay đổi nhanh nhưng hướng dẫn chậm, khi luật này mở nhưng luật khác lại khóa, khi cùng một quy định nhưng mỗi địa phương hiểu một cách, thì chi phí tuân thủ tăng lên và cơ hội phát triển bị chậm lại.

Phân tích thực tế này, bà Lê Yến - Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn Tư vấn thuế Hà Nội cho rằng, hệ thống pháp luật của Việt Nam trong thời gian qua đã và đang được hoàn thiện rất nhanh nhằm đáp ứng sự phát triển của nền kinh tế và xã hội. Tuy nhiên, điểm nghẽn lớn hơn nằm ở khâu thực thi. Trên thực tế, cùng một quy định nhưng mỗi địa phương, mỗi cơ quan, thậm chí mỗi cán bộ có thể hiểu và áp dụng khác nhau. 

“Doanh nghiệp không sợ quy định chặt, mà sợ quy định không rõ, cách hiểu không thống nhất và kết quả xử lý không dự báo được. Khi hồ sơ bị yêu cầu bổ sung nhiều lần, khi cơ quan thực thi ngại trách nhiệm, không dám quyết hoặc phải chờ hướng dẫn, thì nguồn lực của doanh nghiệp bị “treo” trong thủ tục thay vì được đưa vào sản xuất, đầu tư và đổi mới sáng tạo”, bà Lê Yến nhấn mạnh.

Đồng tình với quan điểm trên, ông Vũ Hồng Dương - Phó trưởng Thi hành án dân sự Hà Nội khẳng định, “điểm nghẽn” phổ biến hiện nay xuất phát từ việc hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật về thi hành án dân sự nói riêng vẫn còn một số nội dung chưa thực sự phù hợp với thực tiễn. “Một số vụ việc có giá trị phải thi hành rất lớn trong khi tài sản của người phải thi hành án không tương xứng với nghĩa vụ phải thi hành; nhiều trường hợp tài sản đã bị tẩu tán, chuyển nhượng hoặc thay đổi tình trạng pháp lý trước khi bản án có hiệu lực pháp luật”, ông Vũ Hồng Dương cho biết. 

Theo ông Dương, một số tài sản liên quan đến thi hành án có tình trạng pháp lý phức tạp, đang phát sinh tranh chấp hoặc chưa xác định rõ quyền sở hữu, quyền sử dụng; việc xử lý tài sản phải chờ kết quả giải quyết của cơ quan có thẩm quyền nên kéo dài thời gian thi hành án. 

Nhiều ý kiến của các chuyên gia cũng khẳng định, pháp luật không còn là chuyện xa xôi của nghị trường hay cơ quan soạn thảo. Pháp luật quyết định một dự án có thể khởi công hay không, một hộ kinh doanh có thể mở rộng hay không, một người dân có phải đi lại nhiều lần hay không. Một đạo luật tốt không chỉ cần đúng về mục tiêu quản lý, mà phải trả lời được câu hỏi: Người dân có hiểu được không, doanh nghiệp có thực hiện được không, cán bộ có dám quyết không và kết quả có tạo thuận lợi hơn không.

Ông Trần Đức Long, chuyên viên cao cấp Ban Nghiên cứu xây dựng và phổ biến pháp luật (Hội Luật gia Việt Nam) nhấn mạnh, hệ thống pháp luật và đặc biệt là khâu tổ chức thi hành pháp luật vẫn còn những hạn chế nhất định, chưa thực sự trở thành động lực mạnh mẽ cho phát triển. Theo luật sư Long, một số quy định giữa các luật, nghị định còn chồng chéo, mâu thuẫn, đặc biệt trong các lĩnh vực như đất đai, đầu tư, xây dựng, môi trường… Điều này dẫn đến tình trạng lúng túng trong áp dụng, kéo dài thời gian xử lý thủ tục, làm gia tăng chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp. 

Theo ông Trần Đức Long, tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”, thực thi không thống nhất giữa các địa phương, giữa các cấp, các ngành vẫn còn diễn ra. Kỷ luật, kỷ cương trong thực thi pháp luật có nơi, có lúc chưa nghiêm; trách nhiệm của người đứng đầu chưa được phát huy đầy đủ. Một số lĩnh vực còn tình trạng “vừa phân cấp, vừa xin ý kiến”, dẫn đến kéo dài thời gian xử lý công việc, làm giảm tính chủ động của địa phương và cơ sở.

Phân tích quan điểm trên phương diện chính sách, đại biểu Quốc hội thành phố Hải Phòng Nguyễn Ngọc Sơn cho biết, người dân mong pháp luật phải rõ hơn, ổn định hơn, dễ thực hiện hơn. Nhiều cử tri cho rằng chủ trương rất đúng, chính sách rất tiến bộ, nhưng khi đi vào thực hiện lại vướng ở nghị định, thông tư, thủ tục hoặc cách hiểu khác nhau giữa các địa phương, các cơ quan. Một quy định không rõ có thể làm chậm một dự án, làm tăng chi phí của doanh nghiệp hoặc khiến người dân phải đi lại nhiều lần để hoàn tất một thủ tục. 

Ông Nguyễn Ngọc Sơn đánh giá, khó khăn hiện nay là hệ thống pháp luật còn có chỗ chồng chéo, thiếu thống nhất; một số quy định còn thiên về quản lý an toàn cho cơ quan nhà nước hơn là tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp; phân cấp, phân quyền chưa đi đôi với kiểm soát quyền lực và bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm. Ngoài ra, chất lượng đánh giá tác động chính sách ở một số dự án luật còn chưa sâu, chưa lượng hóa đầy đủ chi phí tuân thủ, chưa dự báo hết tác động đối với người dân, doanh nghiệp và ngân sách nhà nước.

Tiến sĩ Bùi Phương Đình - Phó Giám đốc Học viện Hành chính và Quản trị công cho rằng, đội ngũ cán bộ, công chức hiện nay đã có bước phát triển như trình độ đào tạo được nâng lên, kỹ năng nghề nghiệp tốt hơn, tư duy quản lý chuyển dần từ “quản lý” sang “phục vụ”, khả năng tiếp cận các chuẩn mực quốc tế về quản trị công ngày càng tốt hơn. Nhiều cán bộ, công chức đã chủ động tham gia sâu hơn vào quá trình phản biện, xây dựng chính sách chứ không chỉ dừng ở lại ở khâu thực thi chính sách. 

Tuy nhiên, theo Tiến sĩ Bùi Phương Đình, tư duy xây dựng thể chế vẫn chưa theo kịp yêu cầu phát triển, còn thiên về quản lý hành chính, chưa chú trọng nhiều đến tư duy kiến tạo phát triển, chưa thực sự coi thể chế là công cụ dẫn dắt thị trường, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và định hướng phát triển kinh tế - xã hội. 

Tăng khả năng tiếp cận

Chú thích ảnh
Trung tâm Hành chính công xã Lũng Cú (Tuyên Quang) vận hành hiệu quả, góp phần nâng cao hiệu lực quản lý và chất lượng phục vụ người dân. Ảnh: Hoàng Hải/TTXVN

Theo Phó Chủ tịch UBND xã Lũng Cú (tỉnh Tuyên Quang) Ma Doãn Khánh, Lũng Cú là một địa bàn vùng biên còn nhiều khó khăn, thường bị hạn chế bởi thủ tục hành chính phức tạp, thiếu cơ chế hỗ trợ phát triển. Khi hệ thống pháp luật được điều chỉnh theo hướng minh bạch, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm, các rào cản dần được tháo gỡ, tạo điều kiện cho đầu tư, sản xuất và dịch vụ phát triển.

“Thể chế hoàn thiện không chỉ giúp cải thiện môi trường kinh doanh mà còn nâng cao hiệu lực quản lý của chính quyền địa phương. Các chính sách rõ ràng, dễ tiếp cận giúp người dân chủ động hơn trong kinh tế, đồng thời tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ công. Nhờ đó, hạ tầng, đời sống và diện mạo địa phương được cải thiện nhanh chóng, trở thành động lực mạnh mẽ thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, thu hẹp khoảng cách vùng miền và củng cố niềm tin của người dân vào chính sách”, ông Ma Doãn Khánh nhấn mạnh. 

Phân tích hiệu quả khi môi trường pháp lý ngày càng thông thoáng, minh bạch hơn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh cho biết, nếu như trước đây, hoạt động kinh tế chủ yếu chỉ giới hạn trong khu vực Nhà nước, doanh nghiệp Nhà nước, thì bước vào thời kỳ đổi mới, pháp luật đã thực sự trở thành công cụ “cởi trói”, tạo lập hành lang pháp lý để các thành phần kinh tế khác tham gia đầu tư, sản xuất, kinh doanh. Đây không chỉ là sự thay đổi về cơ chế vận hành nền kinh tế, mà còn là bước chuyển mang tính căn bản về tư duy quản lý nhà nước bằng pháp luật.

“Bước vào giai đoạn phát triển mới, tư duy 'pháp luật kiến tạo phát triển' được đặt ra như một yêu cầu tất yếu. Pháp luật không chỉ giữ vai trò kiểm soát, mà còn phải mở không gian cho cái mới” Thứ trưởng Nguyễn Thanh Tịnh phân tích.

Ông cho hay, một điểm rất đáng chú ý là vừa qua Quốc hội cho phép thực hiện các cơ chế thí điểm, cơ chế đặc thù, trao quyền chủ động nhất định cho Chính phủ ban hành các nghị quyết quy phạm nhằm xử lý kịp thời những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Trong một số trường hợp, các nghị quyết này có thể điều chỉnh khác với quy định hiện hành của luật, nghị quyết của Quốc hội hoặc pháp lệnh. 

Đây là cách làm mới, thể hiện tư duy đổi mới mạnh mẽ trong xây dựng thể chế.

Bài cuối: Đổi mới tư duy làm luật và kỷ luật thực thi

Đỗ Bình (TTXVN)
Đột phá thể chế để văn hóa thực sự trở thành động lực phát triển
Đột phá thể chế để văn hóa thực sự trở thành động lực phát triển

Ngày 24/4/2026, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI đã chính thức thông qua Nghị quyết về một số cơ chế, chính sách đột phá phát triển văn hóa Việt Nam.

Chia sẻ:

doanh nghiệp - Sản phẩm - Dịch vụ

Các đơn vị thông tin của TTXVN