Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hồ Chí Minh thảo luận tại tổ. Ảnh: Văn Điệp/TTXVN
Các đại biểu cho rằng cùng với việc tăng đầu tư công, dự thảo nghị quyết cần làm rõ phạm vi chi, cơ chế sử dụng ngân sách và chính sách thu hút nguồn lực xã hội để bảo đảm hiệu quả kinh tế của các chính sách phát triển văn hóa.
Một trong những nội dung được nhiều đại biểu quan tâm là quy định Nhà nước bảo đảm chi cho văn hóa hằng năm tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước và tăng dần theo yêu cầu phát triển trong từng giai đoạn.
Đại biểu Trần Thị Kim Nhung (đoàn Quảng Ninh) đánh giá cao tinh thần khẩn trương chuẩn bị dự thảo nghị quyết nhằm thể chế hóa Nghị quyết 80 của Bộ Chính trị, song cho rằng dự thảo vẫn cần tiếp tục hoàn thiện sau các vòng thảo luận. Theo đại biểu, nếu không làm rõ phạm vi “chi cho văn hóa” thì rất dễ dẫn đến tình trạng dàn trải, thậm chí “cái gì cũng có thể gắn với văn hóa”, làm giảm hiệu quả chính sách. Vì vậy cần xác định rõ nội hàm văn hóa trong nghị quyết để bảo đảm nguồn lực được tập trung, có trọng tâm và khả thi trong triển khai.
Đại biểu Vũ Ngọc Lâm (đoàn Quảng Ninh) cho rằng khái niệm văn hóa rất rộng và trừu tượng, trong khi quy định về định mức, tiêu chuẩn chi hiện còn thiếu. Thực tiễn tại địa phương cho thấy nhiều hoạt động văn hóa quy mô lớn phải triển khai nhưng thiếu căn cứ chi tiêu cụ thể, dẫn đến khó khăn trong thực hiện và thanh quyết toán. Nếu quy định tỷ lệ chi 2% mà không có hướng dẫn chi tiết sẽ dễ gây lúng túng cho địa phương.
Theo đại biểu Vũ Ngọc Lâm cũng lưu ý sự chồng lấn giữa các tỷ lệ chi cứng trong ngân sách như khoa học công nghệ, giáo dục và văn hóa, đặc biệt trong các hoạt động có tính liên ngành, gây khó khăn trong xác định nguồn chi và kiểm toán.
Đại biểu Nguyễn Minh Sơn (đoàn Đồng Tháp) đề nghị làm rõ cấu phần chi trong 2% ngân sách, bao gồm chi đầu tư, chi sự nghiệp, chi chương trình mục tiêu quốc gia… đồng thời gắn phân bổ ngân sách với hiệu quả đầu ra. Theo đại biểu, cần ưu tiên các lĩnh vực có tác động lan tỏa như công nghiệp văn hóa, chuyển đổi số và bảo tồn di sản cấp bách.
Đồng tình với việc quy định tỷ lệ chi tối thiểu cho văn hóa, đại biểu Tạ Đình Thi (đoàn Hà Nội) cho rằng cần bổ sung nguyên tắc phân bổ ngân sách theo sản phẩm đầu ra. Theo đó, việc tăng chi cho văn hóa cần gắn với các chỉ số đo lường cụ thể như số lượng sản phẩm công nghiệp văn hóa xuất khẩu hoặc mức độ tương tác quốc tế với các sản phẩm văn hóa số hóa.
Liên quan đến chính sách huy động nguồn lực xã hội, đại biểu Trần Thị Kim Nhung đề xuất bổ sung cơ chế ưu đãi mạnh hơn đối với đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) trong lĩnh vực văn hóa. Các biện pháp có thể bao gồm nâng tỷ lệ vốn Nhà nước tham gia, hỗ trợ vốn vay ưu đãi, hỗ trợ giải phóng mặt bằng và tái định cư nhằm tăng sức hấp dẫn đối với nhà đầu tư trong bối cảnh lĩnh vực văn hóa hiện còn khó thu hút nguồn lực xã hội.
Một nội dung khác nhận được nhiều ý kiến là cơ chế thí điểm mô hình đô thị di sản. Đại biểu Trần Thị Kim Nhung cho rằng việc chỉ giới hạn ưu đãi trong phạm vi đất đai, phí và lệ phí là chưa đủ để phát triển một mô hình đặc thù như đô thị di sản. Theo đại biểu, cần trao quyền rộng hơn cho Chính phủ xây dựng khung cơ chế linh hoạt, cho phép địa phương chủ động thiết kế chính sách phù hợp với điều kiện thực tiễn, bao gồm quy hoạch, kiến trúc, đầu tư, thủ tục hành chính và cơ chế vận hành.
Đại biểu Vũ Ngọc Lâm cũng đồng tình, cho rằng mô hình đô thị di sản không chỉ là câu chuyện thu hút đầu tư mà còn liên quan đến tổng thể cơ chế vận hành, bảo tồn và phát huy giá trị di sản. Vì vậy cần xây dựng hệ thống chính sách đặc thù toàn diện thay vì chỉ bó hẹp trong ưu đãi đầu tư.
Đối với đề xuất thành lập Quỹ văn hóa nghệ thuật, đại biểu Trịnh Thị Mùi (đoàn Đồng Tháp) bày tỏ băn khoăn về tính cần thiết và hiệu quả trong bối cảnh hiện nay đã có nhiều đơn vị nghệ thuật công lập. Theo đại biểu, nếu không thiết kế rõ cơ chế vận hành, trách nhiệm và hiệu quả đầu tư, đặc biệt với tính chất “đầu tư mạo hiểm” trong nghệ thuật, quỹ có thể khó phát huy tác dụng.
Trong khi đó, đại biểu Nguyễn Minh Sơn cơ bản ủng hộ việc thành lập quỹ với tính chất đột phá, song nhấn mạnh cần quy định rõ nguyên tắc hoạt động, bảo đảm minh bạch, tránh cơ chế “xin - cho” và phù hợp với chủ trương rà soát, tinh giản các quỹ tài chính ngoài ngân sách.
Từ góc độ phát triển công nghiệp văn hóa trong kỷ nguyên số, đại biểu Tạ Đình Thi cho rằng dự thảo nghị quyết đã có nhiều điểm tiến bộ khi đề cập đến hạ tầng số và cơ sở dữ liệu quốc gia về văn hóa. Tuy nhiên, để thể chế hóa Nghị quyết 57, cần mạnh dạn hơn trong chính sách ưu đãi cho hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D).
Cụ thể, đại biểu đề nghị bổ sung ưu đãi thuế đối với hoạt động phát triển các công cụ tạo nội dung số dựa trên trí tuệ nhân tạo (AI), thực tế ảo (VR) và công nghệ chuỗi khối (blockchain) phục vụ bảo tồn và sáng tạo văn hóa. Nếu không có chính sách đủ mạnh cho R&D, Việt Nam sẽ khó tạo ra các sản phẩm văn hóa số mang thương hiệu quốc gia có khả năng cạnh tranh toàn cầu.
Ngoài ra, đại biểu cũng đề xuất nghiên cứu thí điểm Quỹ văn hóa nghệ thuật theo mô hình quỹ đầu tư mạo hiểm cho sáng tạo số, với cơ chế chấp nhận rủi ro phù hợp tinh thần Nghị quyết 57.
Các ý kiến tại tổ đều thống nhất về sự cần thiết ban hành nghị quyết nhằm tạo đột phá trong phát triển văn hóa. Tuy nhiên, nhiều đại biểu nhấn mạnh dự thảo cần tiếp tục được hoàn thiện theo hướng làm rõ phạm vi chính sách, cụ thể hóa cơ chế thực hiện, mở rộng dư địa thể chế và bảo đảm tính minh bạch, khả thi. Đây được xem là điều kiện quan trọng để nghị quyết thực sự trở thành động lực thúc đẩy văn hóa phát triển, đóng góp hiệu quả vào tăng trưởng kinh tế – xã hội trong giai đoạn tới.