Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 1/8/2013 tăng 9,0% so với cùng thời điểm năm 2012. Mức tồn kho này đã giảm nhiều vì có thời điểm chỉ số hàng tồn kho lên tới trên 21,5%. Tuy nhiên, chỉ số tồn kho giảm chưa bền vững bởi tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hiện vẫn khó khăn. Tồn kho của một số ngành hàng giảm không phải do sức mua tăng lên mà do doanh nghiệp tiết giảm sản xuất.
Giảm lương, nghỉ việc luân phiên vì hàng tồn
Theo Tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam (Vinacomin), đến thời điểm này, sản xuất của các doanh nghiệp ngành than vẫn đang gặp nhiều khó khăn do tiêu thụ trong nước và xuất khẩu giảm mạnh. Do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế kéo dài nên các hộ tiêu thụ trong nước như: Điện, xi măng, phân bón, hóa chất, vật liệu xây dựng... đã giảm mua than. Ông Huỳnh Đắc Thắng, Phó Vụ trưởng Vụ Kế hoạch (Bộ Công Thương) cho biết, riêng tháng 8, lượng than bán cho điện, xi măng, thép... giảm tới 25,5% so với tháng 7 và giảm 25,3% so với tháng 8. Tính chung 8 tháng, tiêu thụ than giảm 40,2% so với cùng kỳ. Lượng than xuất khẩu cũng giảm mạnh do khó cạnh tranh về giá và chất lượng. Tính đến cuối tháng 8, lượng than của TKV bao gồm cả than nguyên khai và than thành phẩm tồn kho lên tới 5,8 triệu tấn.
Bốc xếp xi măng tại Nhà máy Xi măng Quang Sơn - Công ty TNHH Một thành viên Xi măng Quang Sơn (Tổng công ty Xây dựng công nghiệp Việt Nam). Ảnh: Trọng Đạt - TTXVN |
Do tình hình tiêu thụ than chậm, lượng hàng tồn kho tăng cao nên thời gian gần đây, nhiều lao động ngành than đã phải nghỉ việc luân phiên. Điều này đã ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và việc làm của người lao động. Hai tháng qua, những công nhân Công ty Kho vận và Cảng Cẩm Phả (Quảng Ninh) chỉ làm việc từ 18 - 20 ngày/tháng, thời gian còn lại họ phải thay nhau nghỉ việc luân phiên để những người khác cũng có việc làm. Cắt giảm ngày công lao động khiến việc làm và thu nhập của hàng nghìn lao động ngành than gặp khó khăn.
Để giảm hàng tồn kho, ngành thép hiện cũng đã buộc phải tiết giảm sản xuất và kinh doanh. Thời điểm này, mặc dù chuẩn bị bước vào mùa xây dựng nhưng sản xuất sắt thép giảm, so với tháng 8 năm 2012: sản lượng sắt, thép thô tháng 8 ước đạt 246,3 nghìn tấn, giảm 2,6%. Tính chung 8 tháng so với cùng kỳ: sản lượng sắt, thép thô ước đạt hơn 1,8 triệu tấn, giảm 12,1%. Đại diện Hiệp hội thép Việt Nam cho biết, thông thường vào thời điểm này, các doanh nghiệp kinh doanh đua nhau trữ hàng để chờ đến mùa xây dựng bung hàng ra bán với giá cao nhưng năm nay thì ngược lại, doanh nghiệp không dám trữ hàng mà chỉ tiêu thụ đến đâu lấy hàng đến đó vì lo sợ tiêu thụ chậm hàng tồn kho cao có thể đẩy doanh nghiệp vào tình thế khó khăn.
Không chỉ hàng công nghiệp mà hàng tiêu dùng cũng đối mặt với tình trạng tồn kho cao do sức tiêu dùng giảm sút. Theo số liệu mới đây của Bộ Công Thương, một số ngành hàng tiêu dùng hiện đang có chỉ số tồn kho cao đáng lo ngại như: sữa tăng 25,7%; đồ uống tăng 59,6%; hàng may sẵn (trừ trang phục) tăng 20,3%; giấy nhăn, bìa nhăn, bao bì từ giấy và bìa tăng 35,8%; pin và ắc quy tăng 23,2%; dây, cáp điện và dây dẫn điện tử khác tăng 32,1%; mô tô, xe máy tăng 81,6%...
Tăng tổng cầu cho nền kinh tế
Theo Bộ Công Thương, mặc dù chỉ số sản xuất công nghiệp từng tháng tăng so với cùng kỳ nhưng chỉ số sản xuất công nghiệp chung của cả nước chuyển biến chậm. Điều này chứng tỏ sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp còn gặp nhiều khó khăn, sức mua của xã hội còn thấp. Theo Chủ tịch Hội Vật liệu xây dựng Trần Văn Huynh: Lượng hàng tồn kho của ngành xây dựng giảm là nhờ tiêu thụ trong nước có cải thiện nhưng không đáng kể. Cái chính là các doanh nghiệp giảm sản lượng sản xuất và tìm kiếm đơn hàng xuất khẩu. Như xi măng, lượng tồn kho giảm chủ yếu là do đẩy mạnh xuất khẩu. Các mặt hàng khác như gốm sứ xây dựng, kính xây dựng... vẫn rất khó khăn do cạnh tranh thị trường trong nước và xuất khẩu.
Theo điều tra mới đây của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về tình hình doanh nghiệp, các doanh nghiệp nhìn nhận hàng tồn kho là mối lo ngại lớn nhất trong giai đoạn hiện nay. Để giảm hàng tồn kho, các doanh nghiệp đã thực hiện nhiều biện pháp, như tìm kiếm thị trường xuất khẩu mới, đưa hàng về khu vực nông thôn, thực hiện các chương trình khuyến mại... Thậm chí có doanh nghiệp đã hạ giá bán sản phẩm dưới giá thành nhưng vẫn khó tiêu thụ.
Theo chuyên gia kinh tế Nguyễn Minh Phong: Mỗi loại hàng tồn kho cần có những giải pháp riêng. Nếu là hàng hóa nguyên liệu thì doanh nghiệp phải điều chỉnh kế hoạch sản xuất, cần tìm cách mở rộng thị trường, mạng lưới phân phối, giảm giá... để tiêu thụ sản phẩm. Tuy nhiên, để giải quyết hiệu quả vấn đề tồn kho cần có cả sự tham gia giải quyết của các chính sách điều hành kinh tế vĩ mô.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ xã hội tháng 8 ước đạt gần 216,4 nghìn tỷ đồng. Tính chung 8 tháng ước đạt trên 1.705 nghìn tỷ đồng, tăng 12,3% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, nếu loại trừ yếu tố tăng giá thì tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ xã hội 8 tháng chỉ tăng 5,% so với cùng kỳ. Theo các chuyên gia kinh tế, đối với tổng mức bán lẻ hiện nay, cần quan tâm đến một số giải pháp. Trong đó, Chính phủ cần đẩy nhanh việc cắt giảm, giãn hoãn các khoản thuế, nhất là thuế VAT vì loại thuế này trực tiếp liên quan đến giá cả mà người mua phải trả. Tổng cầu yếu đang cản trở tăng trưởng, giải quyết tồn kho, nợ xấu... Vì vậy, cần làm cho tổng cầu tăng lên.
Thu Hường