Đáp ứng đòi hỏi thực tiễn
Theo ông Nguyễn Phúc Thanh, nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội, 70 năm qua (1946 - 2015), đặc biệt 30 năm đổi mới, hoạt động lập pháp của Quốc hội được thực hiện một cách sôi nổi, mạnh mẽ, quyết liệt với quyết tâm nâng cao cả về chất lượng lẫn số lượng các dự án luật được thông qua.
Toàn cảnh phiên chất vấn và trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIII. Ảnh: Phương Hoa – TTXVN |
Sau gần 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành số lượng luật, pháp lệnh gấp 8 lần so với từ khi thành lập (1946 đến 1986, nước ta ban hành 63 luật, pháp lệnh). Nhưng chỉ trong những năm đổi mới, nước ta đã ban hành được 483 luật, pháp lệnh. Chỉ riêng từ tháng 5 đến tháng 6/2015, Quốc hội đã thông qua 30 pháp lệnh và 208 luật. Trong đó, 40 văn bản thuộc lĩnh vực tổ chức và hoạt động của các thiết chế trong hệ thống chính trị và pháp luật về quyền con người, quyền công dân; 66 văn bản trong lĩnh vực kinh tế; 74 văn bản trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, khoa học công nghệ, y tế, thể thao, du lịch, dân tộc tôn giáo, dân số, gia đình; 42 văn bản trong lĩnh vực pháp luật về an ninh, quốc phòng, trật tự an toàn xã hội. Đặc biệt, trong thời kỳ này, Quốc hội đã tiến hành sửa đổi Hiến pháp năm 1992 và ban hành Hiến pháp 2013. Hai bản Hiến pháp này, đặc biệt là Hiến pháp năm 2013 đã đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả tối thượng trong hệ thống pháp luật nước nhà; đáp ứng được yêu cầu của công cuộc mở cửa hội nhập, đổi mới của đất nước một cách toàn diện.
Nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phúc Thanh đánh giá, trong số các dự án luật đã được thông qua, có nhiều luật rất mới lần đầu tiên được ban hành ở nước ta như: Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật Quản lý và sử dụng tài sản nhà nước, Luật Quản lý nợ công, Luật Trách nhiệm bồi thường nhà nước, Luật Công chức viên chức, Luật Bình đẳng giới, Luật Năng lượng nguyên tử, Luật Công nghệ cao, Luật Đa dạng sinh học...
Nội dung các luật được thông qua khá phong phú, điều chỉnh nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội từ việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước, theo định hướng xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân; đến việc tiếp tục đổi mới và hoàn thiện cơ chế, công cụ quản lý nhà nước về các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học công nghệ, an ninh quốc phòng, đối ngoại. Đặc biệt, nội dung các dự án luật được Quốc hội các khóa XII, XIII ban hành đều phản ánh những đòi hỏi của cuộc sống, phù hợp với thực tiễn của đất nước và tiếp thu có chọn lọc những giá trị tiến bộ của nhân loại, kịp thời bổ sung, hoàn thiện các luật đã ban hành nhưng không còn phù hợp với sự vận động và phát triển của thực tiễn.
Mặt khác, hoạt động lập pháp bao quát hầu khắp các lĩnh vực của đời sống xã hội. Từ việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của các thiết chế trong hệ thống chính trị, đảm bảo quyền con người, quyền tự do dân chủ của công dân, thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đến xây dựng và hoàn thiện pháp luật về giáo dục, đào tạo, khoa học công nghệ, y tế, văn hóa, thông tin, thể thao, dân tộc, tôn giáo, dân số, gia đình, quốc phòng, an ninh, đều đã có bước tiến bộ về chất lượng và số lượng, góp phần làm cho hệ thống pháp luật đồng bộ, đầy đủ hơn, nhất là từ sau khi Hiến pháp năm 2013 có hiệu lực thi hành.
Đổi mới tư duy xây dựng luật
Nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phúc Thanh nhìn nhận, hoạt động lập pháp của Quốc hội trong những năm qua vẫn còn những mặt tồn tại. Đó là, trong một số đạo luật còn chứa đựng những quy định phản ảnh không đầy đủ nhu cầu của cuộc sống nên tác dụng điều chỉnh không cao. Một số quy định còn thể hiện ý chí chủ quan, tính dự báo không cao, tính khả thi còn thấp, nên sức sống của nó không dài. Đây chính là nguyên nhân một số đạo luật không bền vững.
Mặt khác, việc ủy quyền lập pháp cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền còn nhiều nên việc cụ thể hóa luật không kịp thời, làm cho luật chậm đi vào cuộc sống, gây khó khăn cho việc thực hiện luật. Hình thức thể hiện tuy có tiến bộ nhưng nhiều điều luật vẫn còn quy định dài dòng và thiếu chế tài cụ thể. Việc dân chủ hóa trong hoạt động lập pháp có tiến bộ nhưng vẫn còn hình thức, chưa thu hút được đông đảo các chuyên gia, nhà quản lý, đối tượng trực tiếp chịu sự tác động của các quan hệ xã hội vào hoạt động soạn thảo, thẩm tra, thẩm định, thảo luận và xem xét thông qua các dự án luật. Các hội thảo, hội nghị góp ý kiến vào các dự án luật còn hình thức, chưa thực chất...
Vì vậy, Quốc hội cần tiếp tục đổi mới tư duy, nắm vững tinh thần và nội dung của Hiến pháp năm 2013; nâng cao năng lực lập pháp của các cơ quan có thẩm quyền là đòi hỏi khách quan và cấp thiết. Quốc hội cần xây dựng cách tư duy pháp lý mới, chỉ đạo việc hình thành các chính sách trong dự án luật như đề cao chủ quyền Nhân dân, trách nhiệm của nhà nước, thừa nhận giá trị phổ quát của tính công khai, minh bạch trong tổ chức đời sống chính trị, kinh tế, xã hội.
Ngoài ra, Quốc hội cần gắn kết chặt chẽ nhiều hơn nữa việc thực hiện chức năng lập pháp với việc thực hiện chức năng giám sát trong hoạt động thẩm tra các dự án luật. Việc thực hiện chức năng lập pháp và thực hiện chức năng giám sát dường như là hai công việc có tính độc lập, tiến hành một cách riêng rẽ. Vì thế, nếu chúng ta đổi mới vừa kết hợp hoạt động giám sát phục vụ cho hoạt động thẩm tra các dự án luật, thì việc thẩm tra dự án luật chắc chắn sẽ có cơ sở thực tiễn phong phú phục vụ cho thẩm tra...