Thứ hai, việc di chuyển phải được đặt trong cơ chế đặc thù được Quốc hội quyết định tại Điều 2 Nghị quyết 256; đồng thời, phải có phương án cụ thể do cơ quan có thẩm quyền quyết định, bảo đảm bảo tồn tối đa các yếu tố cấu thành di tích, phát huy giá trị di tích sau di chuyển.
Thứ ba, công khai, minh bạch và tham vấn cộng đồng phải là yêu cầu bắt buộc. Người dân phải được biết di tích sẽ chuyển đến đâu và phải được tham gia vào quá trình xây dựng phương án bảo tồn, phục hồi tại địa điểm mới, gắn với sinh hoạt văn hóa của cộng đồng sau khi đã tái định cư, bảo đảm "Dân ở đâu di tích ở đó".
Thứ tư, trách nhiệm phải đi cùng thẩm quyền. UBND tỉnh Bắc Ninh (TP Bắc Ninh tính từ ngày 20/9/2026) phải chịu trách nhiệm về hồ sơ khoa học, phạm vi, ranh giới, phương án di chuyển và kết quả bảo tồn, phục hồi, phát huy giá trị di tích.
Hiện nay, vị trí di chuyển và phương án di chuyển đã được tham vấn cộng đồng, đại diện cộng đồng địa phương nơi có di tích đồng thuận, ủng hộ; khu đất lắp dựng đình vẫn gắn với cộng đồng cũ, rộng rãi hơn và tiếp tục bảo đảm cảnh quan văn hóa của di tích và không gian văn hóa liên quan đến cộng đồng chủ thể, bảo đảm nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng của người dân. Theo phương án của UBND tỉnh Bắc Ninh, đình cũ xây dựng bằng bê tông sẽ được Nhà nước đầu tư xây dựng lại bằng kết cấu gỗ truyền thống, được đầu tư nâng cấp hạ tầng cơ sở phục vụ nhu cầu của Nhân dân.
Dự kiến phương án triển khai di chuyển di tích của UBND tỉnh Bắc Ninh như sau:
Đình Đông Côi:
Thuộc phường Thuận Thành, được xếp hạng di tích cấp tỉnh (tại Quyết định số 1048/QĐ-UBND ngày 17/9/2015). Theo thông tin địa phương cung cấp, di tích nằm trên thửa đất có diện tích 2.657m2. Hiện trạng di tích gồm 3 hạng mục chính (Đại đình, Nhà bia, Nghi môn). Trong đó, Đại đình (Đại bái, Hậu cung) có diện tích 444,6m2, mặt bằng kiểu chữ Đinh, gồm Đại bái 5 gian, 2 chái, Hậu cung 3 gian, bộ khung vì được làm bằng chất liệu bê tông cốt thép; Nhà bia có diện tích khoảng 60m2, kiến trúc kiểu chồng diêm 02 tầng mái, toàn bộ hệ khung vì được làm bằng bê tông cốt thép; Nghi môn kiểu tứ trụ, được làm bằng đá xanh.
Phương án di chuyển được đề xuất: Địa phương đề nghị hoàn trả di tích về vị trí khu Nghè Nhất (có diện tích 3.084m2), nằm giáp khu dân cư hiện hữu; Phương án, cách thức di chuyển đến địa điểm mới: Tu bổ (phục hồi) tòa Đại đình, Hậu cung tại vị trí mới với khung chịu lực bằng vật liệu gỗ lim; tháo dỡ di chuyển cổng đình bằng đá hiện trạng, lắp dựng lại tại vị trí mới; tôn tạo (xây dựng mới) các hạng mục: Tiền tế, Tả vu, Hữu vu, nhà bia, nhà bếp, nhà vệ sinh, sân, tường rào, hạ tầng kỹ thuật...; tài liệu, hiện vật: Bảo quản, di chuyển, lắp đặt, bài trí nguyên trạng hệ thống tài liệu hiện vật thuộc di tích sau khi hoàn thành việc di chuyển tòa Đại đình, Hậu cung về địa điểm mới.
Đình Tam Sơn:
Thuộc xã Lương Tài, được xếp hạng di tích cấp tỉnh (tại Quyết định số 225/QĐ-CT, ngày 10/3/2003); nằm trên thửa đất có diện tích 915m2. Hiện trạng di tích bao gồm 2 hạng mục chính (Đại bái và Hậu cung), với quy mô diện tích 105m2, mặt bằng kiểu chữ Đinh, gồm: Đại bái 3 gian, 2 chái, kiến trúc 4 mái đao cong; Hậu cung 2 gian. Toàn bộ công trình có bộ khung chịu lực bằng gỗ lim. Về diện tích hoàn trả: Địa phương đề nghị bổ sung diện tích giếng đình, ao đình để có cơ sở tính toán, khi hoàn trả diện tích đất đình tại địa điểm mới (tổng diện tích đất hiện nay bao gồm đất đình, giếng đình và ao đình là khoảng trên 3.000m2).
Phương án di chuyển di tích được đề xuất: Di chuyển đến địa điểm mới; tu bổ (phục hồi) toà Đại đình trên cơ sở di chuyển nguyên trạng hạng mục Đại bái, Hậu cung hiện nay đến địa điểm mới lắp dựng lại, kết hợp việc tu bổ, thay thế các cấu kiện gỗ bị hư hỏng; tôn tạo (xây mới) các hạng mục: Tả vu, Hữu vu, cổng đình, giếng đình, ao đình, nhà bếp, nhà vệ sinh, sân, tường rào, hạ tầng kỹ thuật, mộ Thành hoàng làng (nếu có),...; đối với tài liệu, hiện vật: Bảo quản, di chuyển, lắp đặt, bài trí nguyên trạng hệ thống tài liệu hiện vật thuộc di tích sau khi hoàn thành việc di chuyển tòa Đại đình, Hậu cung về địa điểm mới; sau khi hạ giải công trình tòa Đại bái, Hậu cung để di chuyển về địa điểm mới, đề nghị cho phép khai quật khẩn cấp toàn bộ diện tích công trình đình làng để tìm dấu tích ngôi mộ Thành hoàng làng (Theo Thần tích, đình được xây dựng trên phần mộ của Thành hoàng làng là Tướng quân Phạm Hồng).
Theo thuyết minh của UBND tỉnh Bắc Ninh (Tại các Tờ trình: số 66/TTr-UBND ngày 28/3/2026, số 151/TTr-UBND ngày 22/5/2026, số 180/TTr-UBND ngày 08/6/2026, số 239/TTr-UBND ngày 01/7/2027 và Công văn số 8091/UBND-KTN ngày 26/7/2026) đều đề xuất di chuyển 3 di tích lịch sử - văn hóa, gồm đền Tân Trăn (xã Lâm Thao), đình Đông Côi (phường Thuận Thành) và đình Tam Sơn (xã Lương Tài), với lý do các di tích này nằm trong khu vực phải thu hồi đất, giải phóng mặt bằng để thực hiện Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường kết nối Cảng Hàng không quốc tế Gia Bình với Thủ đô Hà Nội (đoạn qua địa bàn tỉnh Bắc Ninh) và Dự án xây dựng Doanh trại Trung đoàn không quân Công an nhân dân.
Theo đó, UBND tỉnh Bắc Ninh đã xác định: Đề xuất di chuyển 3 di tích này thể hiện rõ việc là phương án đề xuất khi không có biện pháp nào khác có thể thực hiện: “Qua quá trình nghiên cứu, rà soát các phương án kỹ thuật và quy hoạch, việc điều chỉnh hướng tuyến hoặc thay đổi phương án đầu tư nhằm tránh hoàn toàn các di tích nêu trên không bảo đảm tính khả thi, đồng thời ảnh hưởng đến yêu cầu về quốc phòng, an ninh, hiệu quả đầu tư và tiến độ thực hiện dự án”. Do đó, việc nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách đặc thù để thực hiện di dời các di tích bảo đảm tuân thủ quy định của pháp luật, giữ gìn tối đa các yếu tố gốc cấu thành giá trị di tích và đáp ứng yêu cầu triển khai các dự án là yêu cầu thực tiễn cấp thiết hiện nay” .
Tuy nhiên, hệ thống pháp luật về di sản văn hóa của Việt Nam chỉ quy định biện pháp quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích, không quy định vấn đề di chuyển di tích. Công ước quốc tế về bảo vệ di sản văn hóa mà Việt Nam là thành viên (Công ước về bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới năm 1972 của UNESCO) không quy định vấn đề di chuyển di tích. Điều 4 Công ước quy định: “Mỗi quốc gia thành viên của Công ước này tự nhận trách nhiệm đảm bảo việc xác định, bảo vệ, bảo tồn, giới thiệu và truyền lại cho các thế hệ tương lai di sản văn hóa và thiên nhiên... nằm trên lãnh thổ của mình”.
Do đó, việc xây dựng và ban hành chính sách này không làm ảnh hưởng đến việc thực hiện cam kết của quốc gia thành viên tham gia Công ước 1972 về bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới của UNESCO. Tại Điều 7 Hiến chương Venice xác định: “Một di tích là không thể tách rời khỏi lịch sử mà nó là chứng nhân, không thể tách rời khỏi khung cảnh mà nó toạ lạc. Vì vậy, việc di chuyển toàn bộ hoặc bộ phận di tích là không được phép làm, trừ phi do đòi hỏi của việc bảo vệ di tích đó hoặc vì những lý do xác thực vì lợi ích quốc gia hoặc quốc tế hết sức quan trọng”.
Thực tiễn, trong tiền lệ, liên quan đến việc di chuyển di tích, Nghị quyết số 256/2025/QH15 ngày 11/12/2025 của Quội hội về chủ trương đầu tư Dự án xây dựng cảng hàng không quốc tế Gia Bình đã cho phép Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh được phép di chuyển các di tích lịch sử - văn hóa (các cấp) trong quá trình triển khai công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và thực hiện đầu tư Dự án.
Việc di chuyển được thực hiện trên cơ sở phương án do Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh quyết định, bảo đảm bảo tồn tối đa và phát huy giá trị của các di tích, bảo đảm công khai, minh bạch, có tham vấn ý kiến của người dân. Trong quá trình thực hiện, nếu phát sinh vướng mắc, Chính phủ hướng dẫn thực hiện (Điều 2 Nghị quyết). Tuy nhiên, Nghị quyết này chỉ cho phép di chuyển các di tích lịch sử văn hóa trong phạm vi của Dự án cảng hàng không quốc tế Gia Bình.