Với GRDP hơn 115 tỷ USD, chiếm gần 24,4% GDP cả nước, thành phố đang bước vào giai đoạn phát triển với không gian kinh tế rộng hơn, kết nối tài chính, công nghệ cao, công nghiệp, logistics và cảng biển. Khi các động lực tăng trưởng truyền thống dần bộc lộ giới hạn, TP Hồ Chí Minh đang tìm kiếm một chu kỳ tăng trưởng mới bằng cách đổi mới thể chế, kiến tạo những mô hình kinh tế mới và nâng cao năng lực công nghệ, đổi mới sáng tạo.
Dự án IFC One Saigon tại trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: Hồng Đạt/TTXVN
Bài 1: Đi đầu kiến tạo thể chế phát triển
Sau 40 năm Đổi mới, TP Hồ Chí Minh đã khẳng định vai trò đi đầu trong việc kiến tạo thể chế phát triển. Thành phố đóng vai trò như một "phòng thí nghiệm chính sách" (sandbox) để thử nghiệm các chính sách, cơ chế mới mang tính đột phá, vượt trội, từ đó tổng kết thực tiễn, góp phần hình thành nền tảng thể chế chung cho cả nước.
“Phòng thí nghiệm chính sách” phát triển kinh tế
Trong quá trình đổi mới 40 năm qua đã chứng minh, TP. Hồ Chí Minh không chỉ gánh vác sứ mệnh là đầu tàu kinh tế, mà còn mang trọng trách là “phòng thí nghiệm chính sách” của cả nước.
Theo ông Nguyễn Văn Được, Chủ tịch UBND TP. Hồ Chí Minh, dấu ấn lớn nhất chính là thời điểm đất nước bước vào Đổi mới. TP. Hồ Chí Minh chính là cái nôi của tinh thần đổi mới, nơi dũng cảm “phá rào” cởi trói cho sản xuất trước năm 1986, khai phá mô hình Khu chế xuất Tân Thuận đầu tiên vào năm 1991 và tiên phong kiến tạo các biểu tượng công nghệ cao, đô thị hiện đại mang tầm quốc tế.
Nhìn lại thời điểm “đêm trước đổi mới”, TP. Hồ Chí Minh, nơi có cơ sở hạ tầng khá hiện đại, có sự vận hành của kinh tế hàng hóa, nhưng nằm trong bối cảnh chung của sự quản lý kinh tế bằng kế hoạch hóa tập trung, bao cấp của cả nước, nên cũng bắt đầu lâm vào khủng hoảng.
Đến năm 1985, nền kinh tế Việt Nam nói chung và TP. Hồ Chí Minh nói riêng đứng trước những khó khăn, thử thách lớn. Cơ chế quản lý kế hoạch hóa tập trung, bao cấp với đặc trưng là Nhà nước giao chỉ tiêu, cấp phát vật tư và thu mua toàn bộ sản phẩm, những chỉ tiêu này được ví như “vòng kim cô”, triệt tiêu sự sáng tạo, chủ động trong sản xuất của các đơn vị sản xuất kinh doanh.
Theo Tiến sĩ Hoàng Thị Hương, Khoa Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị khu vực II, chính trong bối cảnh đó, một vấn đề mang tính sống còn được đặt ra cho hệ thống chính trị cơ sở và các đơn vị sản xuất kinh doanh là tuân thủ nghiêm ngặt cơ chế cũ để rồi đình đốn sản xuất, đời sống công nhân khó khăn, hay mạnh dạn “vượt rào” để tự cứu lấy mình.
“Chính vì vậy, ở TP. Hồ Chí Minh với tinh thần chủ động, sáng tạo, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, của các đơn vị sản xuất, nên những điển hình theo cách làm ăn mới đã xuất hiện trên các lĩnh vực kinh tế”, Tiến sĩ Hoàng Thị Hương chia sẻ.
Cùng chung nhận định, Tiến sĩ Trần Thị Kim Ninh, Học viện Chính trị khu vực II, cho rằng với tinh thần dũng cảm, sự nhạy bén chính trị và trách nhiệm đại cục trước đời sống nhân dân, Đảng bộ TP. Hồ Chí Minh đã tiên phong đưa ra những quyết sách “xé rào” đầy sáng tạo. Theo bà Ninh, chuỗi quyết sách “phá rào” của thành phố trong giai đoạn 1976 – 1985 (bù giá vào lương, kế hoạch 3 phần, Câu lạc bộ Giám đốc) chính là nguồn chất liệu thực chứng vô giá, giúp Trung ương Đảng đúc kết lý luận, định hình nên đường lối đổi mới tại Đại hội toàn quốc lần thứ VI (1986).
Từ khi đất nước bước vào công cuộc đổi mới, TP. Hồ Chí Minh như được truyền thêm động lực bứt phá, tiên phong mở cửa và kiến tạo động lực hội nhập. Theo các chuyên gia, tư duy của Đảng bộ và chính quyền TP. Hồ Chí Minh đã chuyển dịch mạnh mẽ từ “quản lý sản xuất bằng mệnh lệnh hành chính” sang “kiến tạo hành lang, môi trường” cho các thành phần kinh tế cùng phát triển.
Trọng tâm chiến lược của giai đoạn này là đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm dần tỷ tọng nông nghiệp, tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp – xây dựng và các ngành dịch vụ. Sự đổi mới tư duy toàn diện đã đưa đến những thành tựu mang tính bứt phá vượt trội về mặt thực tiễn, định hình vị thế đầu tàu kinh tế của cả nước.
Thành phố là nơi khởi phát mô hình khu chế xuất, khu công nghiệp đầu tiên. Trong đó sự ra đời Khu chế xuất Tân Thuận năm 1991 là bước đi tiên phong trong chiến lược kinh tế hướng ngoại của thành phố. Đây là mô hình thí điểm cho cả nước về tập trung sản xuất hàng xuất khẩu, đơn giản hóa thủ tục hải quan. Thành công của Tân Thuận tạo tiền đề cho Khu chế xuất Linh Trung được thành lập sau đó.
Tại Linh Trung, thành phố đẩy mạnh thu hút lĩnh vực điện tử, cơ khí, chế tạo linh kiện, mở rộng liên kết với các tỉnh để cung ứng nguyên liệu. Một loạt khu công nghiệp như: Tân Tạo, Hiệp Phước, Vĩnh Lộc với cơ chế ưu đãi phù hợp cũng được thành lập sau đó, nâng tỷ trọng công nghiệp chế biến trong cơ cấu kinh tế thành phố và đóng góp lớn vào tăng trưởng GDP của cả nước.
Tiếp đó, xây dựng Khu Công nghệ cao TP Hồ Chí Minh vào năm 2002 là bước chuyển dịch chiến lược sang nền kinh tế tri thức. Sau hơn 15 năm thực hiện công cuộc đổi mới, mô hình phát triển kinh tế dựa trên các ngành công nghiệp thâm dụng lao động và gia công thô (như dệt may, da giày, lắp ráp cơ bản) dần chạm ngưỡng giới hạn. Mô hình cũ bộc lộ rõ những điểm nghẽn mang tính cấu trúc, như năng suất lao động thấp, nguy cơ ô nhiễm môi trường gia tăng và tỷ suất giá trị gia tăng nội địa thấp.
Thực tế này đặt ra yêu cầu cấp bách đòi hỏi TP. Hồ Chí Minh phải tìm kiếm một động lực tăng trưởng mới nhằm dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo chiều sâu. Việc tập trung đầu tư đồng bộ, hoàn thành và đưa vào khai thác có hiệu quả Khu Công nghệ cao đã biến nơi đây thành động lực thúc đẩy công nghiệp vi điện tử, công nghệ thông tin và sinh học của cả khu vực. Các chuyên gia khẳng định, quyết sách thành lập Khu Công nghệ cao TP. Hồ Chí Minh không đơn thuần là mở rộng quy mô hạ tầng công nghiệp, mà là một thí nghiệm thể chế đột phá về kinh tế tri thức.
Kiến tạo mô hình tăng trưởng mới
Các cảng tại TP Hồ Chí Minh luôn tấp nập các tàu làm hàng. Ảnh: Tiến Lực/TTXVN
Từ những bước đi “xé rào” mang tính gợi mở trong giai đoạn đầu Đổi mới nhằm giải phóng các rào cản mang tính cơ chế, cho đến sự tích lũy mạnh mẽ mang tính khách quan về nguồn lực liên vùng, quy luật phát triển của lực lượng sản xuất đã thúc đẩy sự ra đời tất yếu của mô hình siêu đô thị tích hợp TP. Hồ Chí Minh (gồm Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu, TP. Hồ Chí Minh cũ).
Tiến sĩ Tô Thị Thùy Trang, Viện Nghiên cứu phát triển TP. Hồ Chí Minh phân tích, với vị thế chiến lược về vị trí địa lý, hạ tầng và nguồn lực, TP. Hồ Chí Minh đang từng bước định hình ba trung tâm phát triển chủ chốt của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam; trong đó, khu vực Bình Dương phát triển mạnh các khu công nghiệp, khu công nghệ cao, đóng vai trò là hạt nhân sản xuất, chế biến và đổi mới sáng tạo. Khu vực Bà Rịa – Vũng Tàu được định hướng trở thành trung tâm kinh tế biển và logisitics, khai thác lợi thế cảng biển nước sâu, dịch vụ vận tải quốc tế và năng lượng.
Trong khi TP. Hồ Chí Minh (cũ) giữ vai trò trung trâm tài chính, thương mại và dịch vụ giá trị gia tăng cao, đồng thời là đầu mối kết nối quốc tế về tài chính, khoa học, y tế và giáo dục. Sự phối hợp và bổ trợ giữa ba trung tâm này tạo động lực lan tỏa, góp phần thúc đẩy tăng trưởng bền vững của vùng và khẳng định vị thế then chốt của thành phố trong tiến trình phát triển toàn diện của cả nước.
Theo Tiến sĩ Tô Thị Thùy Trang, sự xuất hiện của không gian kinh tế hợp nhất này, gắn liền với định hướng chiến lược của Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 19/05/2026 của Bộ Chính trị, Chương trình hành động số 21-CtrHĐ/TU của Thành ủy TP. Hồ Chí Minh, cùng hành lang pháp lý tối thượng trong Luật Phát triển đô thị, được TP. Hồ Chí Minh xây dựng và Quốc hội khóa XVI vừa thông qua tại Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, chính là chìa khóa để TP. Hồ Chí Minh bước vào kỷ nguyên phát triển mới.
Ông Nguyễn Mạnh Cường, Phó Chủ tịch UBND TP. Hồ Chí Minh, cho biết Luật Phát triển đô thị được ban hành với mục tiêu kiến tạo khung thể chế mới với mức độ phân quyền mạnh hơn; đồng thời, tạo cơ chế để TP. Hồ Chí Minh - một đô thị đặc biệt - giải quyết triệt để các điểm nghẽn, khơi thông, huy động tối đa nguồn lực và hình thành những mô hình kinh tế mới.
Trong số các lĩnh vực, nội dung được Luật Phát triển đô thị đề cập, đáng chú ý có việc thí điểm cơ chế, chính sách mới; việc xã hội hóa trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội; các nội dung về quy hoạch, xây dựng, phát triển đô thị, tài chính, ngân sách, doanh nghiệp, TOD (phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng), khu đô thị khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, trung tâm tài chính, khu thương mại tự do, kinh tế biển…
Riêng về phát triển kinh tế, Luật Phát triển đô thị tạo khung thể chế vượt trội cho những mô hình tăng trưởng mới, mô hình kinh tế mới mà TP. Hồ Chí Minh đang hướng tới. Theo Phó Chủ tịch UBND TP. Hồ Chí Minh Nguyễn Mạnh Cường, Luật trao thẩm quyền cho thành phố quyết định thành lập, điều chỉnh ranh giới khu thương mại tự do gắn với hệ thống cảng biển quốc tế. Tại đây, nhà đầu tư nước ngoài được miễn thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư trước khi thành lập tổ chức kinh tế và không cần phải có dự án đầu tư. Đồng thời, Luật cho phép phát hành trái phiếu đô thị, trái phiếu dự án để huy động vốn; cấp phép ngân hàng đầu tư và tổ chức các giao dịch, dịch vụ tài chính thế hệ mới.
Theo phân tích của các chuyên gia, Luật Phát triển đô thị giúp xây dựng các công cụ tài chính và cơ chế tổ chức thực thi phù hợp với mục tiêu phát triển đô thị thông minh, bền vững và Net-Zero. Một đô thị đặc biệt không thể chỉ dựa vào ngân sách truyền thống, mà cần những công cụ tài chính mới để huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả nguồn lực cho các ưu tiên chiến lược như giao thông công cộng, TOD, hạ tầng xanh, chuyển đổi số, chuyển đổi năng lượng và phát triển carbon thấp. Đây là điều cần thiết cho quá trình TP. Hồ Chí Minh tái cấu trúc mô hình phát triển theo hướng thông minh hơn, bền vững hơn và có năng lực thích ứng cao hơn trước những biến động của thế giới.
Bài 2: Định hình những cực tăng trưởng mới