Ngày 4/9, theo giờ Việt Nam, công ty trí tuệ nhân tạo OpenAI có trụ sở tại Mỹ đã giới thiệu GPT-6 Astra, cho biết mô hình chủ lực mới của hãng có khả năng xác định các lỗ hổng an ninh mạng nghiêm trọng và tự chủ hoàn thành các tác vụ phức tạp trên máy tính.
OpenAI cho biết Astra ban đầu đang được triển khai cho một nhóm doanh nghiệp giới hạn và sẽ được cung cấp rộng rãi hơn cho các nhà phát triển cũng như người dùng ChatGPT trả phí trong những ngày tới.
Mô hình này được thiết kế để thực hiện các tác vụ máy tính gồm nhiều bước, bao gồm làm việc trên nhiều phần mềm và trình duyệt, hoàn thành các bảng tính và xây dựng trang web.
Ông Greg Brockman, đồng sáng lập kiêm Chủ tịch OpenAI, cho biết: “Astra có thể làm bất cứ điều gì mà con người có thể làm với máy tính”, đồng thời mô tả mô hình này là một bước nhảy vọt lớn về năng lực và cho biết nó đã thể hiện hiệu suất ở cấp độ con người trong nhiều tác vụ khác nhau được thực hiện trên máy tính.
OpenAI cho biết Astra đã vượt qua mô hình tiền nhiệm GPT-5.6 Sol trong các bài đánh giá về an ninh mạng, trong khi sử dụng ít token đầu ra hơn.
Ban đầu, theo hãng thông tấn Anadolu của Thổ Nhĩ Kỳ ngày 4/9, mô hình được cung cấp cho những người tham gia đã được phê duyệt trong chương trình phòng thủ mạng Daybreak của OpenAI, nơi mô hình có thể được sử dụng cho hoạt động nghiên cứu lỗ hổng bảo mật và kiểm thử an ninh được cấp phép.
Việc ra mắt GPT-6 Astra diễn ra trong bối cảnh những rủi ro do các hệ thống AI ngày càng mạnh và có tính tự chủ cao gây ra đang bị giám sát ngày càng chặt chẽ.
Trong một báo cáo được công bố vào tuần trước, OpenAI cho biết một phiên bản thử nghiệm của Astra đã giành được quyền kiểm soát ở cấp quản trị viên đối với một số phần trong cơ sở hạ tầng của công ty trong quá trình thử nghiệm nội bộ mà nhân viên không nhận biết được ngay lập tức.
Công ty cũng cho biết Astra có khả năng phát hiện những lỗ hổng bảo mật chưa từng được biết đến trước đây và phát triển “những phương thức mới để khai thác chúng trên nhiều hệ thống được bảo vệ nghiêm ngặt mà không cần con người hướng dẫn từng bước”.
Để ứng phó với vấn đề này, OpenAI ccho biết họ đã “tăng cường đáng kể” các “biện pháp bảo vệ nhằm ngăn mô hình thực hiện những hành động gây hại trên không gian mạng”.
Việc ra mắt diễn ra sau những chất vấn liên quan đến một sự cố hồi xảy ra vào giữa tháng 7 vừa qua khihai mô hình AI của OpenAI đã thoát khỏi môi trường thử nghiệm được cô lập và truy cập Internet.
Sau đó, các mô hình này phát hiện và tấn công Hugging Face, nền tảng được nhiều nhà phát triển AI sử dụng để lưu trữ và chia sẻ các mô hình cùng bộ dữ liệu.
Sự cố làm gia tăng lo ngại về nguy cơ đối với các hệ thống AI có khả năng hoạt động tự chủ, đặc biệt khi các hệ thống này có thể vượt qua những rào chắn an toàn do con người thiết lập và thực hiện các hành vi ngoài dự kiến.
Tuần trước, một báo cáo độc lập tiếp tục làm dấy lên những lo ngại về vụ các tác nhân của OpenAI tấn công Hugging Face, cho biết khoảng 700 tác nhân đã tham gia cuộc tấn công, liên lạc với nhau và tìm cách che giấu dấu vết.
OpenAI cho biết bản thân Astra không tham gia vào sự cố Hugging Face và sau đó công ty đã xây dựng một bài đánh giá dựa trên những gì đã xảy ra để kiểm tra xem các mô hình có hành động vượt ra ngoài phạm vi được cấp phép hay không.
Giám đốc điều hành OpenAI Sam Altman cho biết Astra đã trải qua quy trình đánh giá tự nguyện của Nhà Trắng và các quan chức chính phủ không yêu cầu công ty thay đổi các biện pháp an toàn của mình.
Theo nhiều chuyên gia, sự phát triển của Astra cũng đặt ra vấn đề đáng chú ý đối với Việt Nam trong quá trình triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Nghị quyết xác định AI là một trong những công nghệ chiến lược tới năm 2030 cần từng bước làm chủ, đồng thời nhấn mạnh tới năm 2030 phải đưa Việt Nam vào nhóm 3 nước dẫn đầu khu vực Đông Nam Á về nghiên cứu và phát triển AI.
Tuy nhiên, những năng lực mới của các mô hình AI tự chủ cho thấy “làm chủ AI” không thể chỉ được hiểu là đưa AI vào sản xuất, kinh doanh hay quản lý nhà nước, mà còn phải bao gồm năng lực đánh giá, kiểm thử, giám sát và kiểm soát các hệ thống AI ngày càng có khả năng tự hành.
Đặc biệt, khi AI có thể tự phát hiện lỗ hổng, xây dựng phương thức khai thác và thực hiện chuỗi hành động trên nhiều hệ thống máy tính mà không cần con người hướng dẫn từng bước, ranh giới giữa năng lực công nghệ và năng lực an ninh mạng ngày càng trở nên khó tách rời.
Điều này càng có ý nghĩa khi Nghị quyết 57 xác định bảo đảm an toàn, an ninh mạng và chủ quyền quốc gia trên nền tảng số và không gian mạng, an ninh mạng, an ninh dữ liệu và an toàn thông tin là yêu cầu xuyên suốt, không thể tách rời khỏi quá trình phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số.
Vì vậy, cùng với việc thúc đẩy nghiên cứu, ứng dụng và từng bước làm chủ các mô hình AI tiên tiến, Việt Nam cần sớm hình thành năng lực kiểm định an toàn AI, xây dựng các môi trường thử nghiệm cô lập, tiêu chuẩn đánh giá đối với AI có tính tự chủ cao và đội ngũ chuyên gia kết hợp cả AI lẫn an ninh mạng.
Cách tiếp cận này sẽ giúp Việt Nam vừa tận dụng được những bước tiến nhanh của công nghệ thế giới, vừa hạn chế nguy cơ phụ thuộc công nghệ và những rủi ro mới đối với dữ liệu, hạ tầng số và an ninh quốc gia.