Theo TS. Hà Văn Chín, Phó Giám đốc Học viện Dân tộc, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là yếu tố quyết định, là điều kiện tiên quyết để đất nước phát triển trong giai đoạn mới. Nghị quyết đồng thời đặt yêu cầu đổi mới mạnh mẽ hoạt động quản lý nhà nước, xây dựng và kết nối các cơ sở dữ liệu, khai thác hiệu quả tài nguyên số, dữ liệu số.
Với lĩnh vực dân tộc, tôn giáo, yêu cầu này càng có ý nghĩa khi việc hoạch định và thực hiện chính sách liên quan tới địa bàn rộng, điều kiện kinh tế - xã hội không đồng đều, đặc điểm văn hóa đa dạng và những vấn đề phát triển có tính đặc thù.
Những định hướng này được đặt ra trong quá trình Bộ Dân tộc và Tôn giáo xây dựng Đề án “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực công tác dân tộc, tôn giáo” giai đoạn 2026-2035.
Tại hội thảo khoa học “Thực trạng phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực công tác dân tộc, tôn giáo”, do Học viện Dân tộc tổ chức ngày 2/10 nhiều nhà khoa học, chuyên gia, nhà nghiên cứu và nguyên lãnh đạo Bộ Dân tộc và Tôn giáo đã cùng trao đổi, đóng góp ý kiến cho việc hoàn thiện Đề án.
Mục tiêu không chỉ là tăng số lượng các nhiệm vụ nghiên cứu, mà xây dựng năng lực nghiên cứu, dữ liệu, công nghệ và đổi mới sáng tạo phục vụ trực tiếp quá trình xây dựng, tổ chức thực hiện, giám sát và đánh giá chính sách.
Đây chính là điểm có thể nhìn thấy rõ sự cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết 57 vào một lĩnh vực quản lý nhà nước cụ thể.
Dự thảo xác định khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phải gắn chặt giữa nghiên cứu - ứng dụng - chuyển giao - xây dựng, quản lý và tổ chức thực hiện chính sách. Đồng thời, phát triển phải đồng bộ về thể chế, hạ tầng kỹ thuật, thiết bị, dữ liệu, nền tảng số và con người.
Một trong những yêu cầu quan trọng của Nghị quyết 57 là hoàn thành xây dựng, kết nối, chia sẻ đồng bộ các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu ngành; khai thác hiệu quả dữ liệu số để nâng cao chất lượng quản trị và quản lý nhà nước.
Đặt trong lĩnh vực dân tộc, tôn giáo, đây không đơn thuần là câu chuyện công nghệ mà là vấn đề về chất lượng chính sách.
Dự thảo Đề án chỉ ra năng lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo hiện đã hình thành ở Trung ương và địa phương nhưng còn phân tán, chưa đồng đều. Đặc biệt, nhân lực vừa có chuyên môn sâu về dân tộc, tôn giáo vừa có năng lực về khoa học dữ liệu, công nghệ số và đổi mới sáng tạo còn hạn chế.
Trong khi đó, công tác dân tộc cần một khối lượng lớn thông tin phục vụ điều tra cơ bản, thống kê, đánh giá chính sách và dự báo. Nguồn lực nghiên cứu phục vụ trực tiếp lĩnh vực này trước đây còn được lồng ghép trong nhiều chương trình, dự án và nhiệm vụ quản lý, chưa hình thành cơ chế theo dõi riêng, ổn định và xuyên suốt cho toàn bộ chuỗi nghiên cứu, dữ liệu, ứng dụng và đánh giá tác động.
Khoảng trống này khiến yêu cầu chuyển từ thông tin phân tán sang dữ liệu có cấu trúc trở nên cấp thiết
Dự thảo Đề án hướng tới xây dựng kiến trúc dữ liệu, tiêu chuẩn dữ liệu và nền tảng dữ liệu khoa học; đồng thời phát triển các công cụ phân tích, bản đồ số và mô hình dự báo phục vụ quản lý. Mục tiêu đến năm 2030 là ít nhất 80% dữ liệu ưu tiên được chuẩn hóa và kiểm soát truy cập; hình thành ít nhất 3 công cụ phân tích, bản đồ số hoặc mô hình dự báo.
Nếu thực hiện được, dữ liệu sẽ không chỉ là nơi lưu trữ thông tin, mà trở thành một phần của quá trình hoạch định chính sách.
Tinh thần của Nghị quyết 57 không chỉ nằm ở việc phát triển công nghệ mà còn ở yêu cầu đưa khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo vào thực tiễn phát triển.
Nghị quyết đặt mục tiêu hệ thống tổ chức khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được sắp xếp hiệu quả, gắn kết chặt chẽ giữa nghiên cứu, ứng dụng và đào tạo; đồng thời đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, nâng cao hiệu quả quản trị và quản lý nhà nước.
Với công tác dân tộc, điều này đòi hỏi thay đổi cách đặt hàng nghiên cứu.
Bộ Dân tộc và Tôn giáo đã chuyển dần từ các nhiệm vụ nghiên cứu đơn lẻ sang định hướng đặt hàng theo yêu cầu quản lý nhà nước.
Đây là hướng đi đáng chú ý, bởi những vấn đề như sinh kế, việc làm, giáo dục, y tế, giảm nghèo, phát triển kinh tế, bảo tồn văn hóa hay chuyển đổi số ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số đều cần những giải pháp dựa trên đặc điểm thực tế từng địa bàn
Dự thảo Đề án cũng đặt mục tiêu đến năm 2030 triển khai ít nhất 20 mô hình ứng dụng, chuyển giao công nghệ tại địa phương, có đánh giá độc lập về mức độ phù hợp và sự hài lòng của đối tượng thụ hưởng.
Cách tiếp cận này đưa người dân trở thành một tiêu chí quan trọng để đánh giá hiệu quả của hoạt động khoa học.
Nghị quyết 57 đặt khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo không chỉ trong câu chuyện tăng năng suất hay phát triển công nghệ, mà còn hướng tới phát triển các giá trị văn hóa, xã hội và con người Việt Nam.
Đây cũng là không gian để chính sách khoa học, công nghệ trong lĩnh vực dân tộc phát huy vai trò.
Dự thảo Đề án xác định phạm vi triển khai trên cả nước, ưu tiên vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, địa bàn có đông đồng bào dân tộc thiểu số, tín đồ và tổ chức tôn giáo. Các lĩnh vực nghiên cứu bao gồm cả văn hóa, sinh kế, phát triển kinh tế - xã hội, dữ liệu và chuyển đổi số.
Công nghệ số có thể hỗ trợ số hóa tư liệu, ngôn ngữ, tri thức bản địa, di sản văn hóa; xây dựng thư viện số, bảo tàng số; mở rộng khả năng tiếp cận và truyền lại các giá trị văn hóa cho thế hệ trẻ.
Nhưng mục tiêu cao hơn là từ bảo tồn tiến tới phát huy. Những giá trị văn hóa, tri thức bản địa phù hợp có thể trở thành nguồn lực cho phát triển du lịch cộng đồng, sản phẩm văn hóa, sinh kế và giáo dục, nếu quá trình đó bảo đảm vai trò chủ thể của cộng đồng.
Dự thảo cũng nhấn mạnh sự tham gia của cộng đồng, người có uy tín, chức sắc, chức việc, nghệ nhân và những người nắm giữ tri thức trong hoạt động nghiên cứu.
Nghị quyết 57 đặt mục tiêu đến năm 2030 dành ít nhất 3% tổng chi ngân sách hằng năm cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; đồng thời yêu cầu tăng cường hạ tầng, nhân lực, dữ liệu và ứng dụng công nghệ trong quản lý nhà nước.
Ở lĩnh vực dân tộc, dự thảo Đề án cụ thể hóa bằng mục tiêu tổng ngân sách nhà nước dành cho các nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực dân tộc, tôn giáo tăng ít nhất 3 lần so với năm 2026; xây dựng mạng lưới ít nhất 300 chuyên gia; triển khai ít nhất 20 mô hình ứng dụng, chuyển giao công nghệ tại địa phương.