Giữa sóng cuồng bão giật trong đêm đen, 6 cán bộ, chiến sĩ Nhà giàn Phúc Tần bám vào chiếc phao bè rách tơi tả, vừa chống chọi với bão tố, vừa cố giữ sức chờ tàu đến cứu. Giây phút cận kề cái chết, họ vẫn lạc quan hi vọng sẽ trở về đất liền bên vợ, con, gia đình. Câu chuyện nhà giàn Phúc Tần đổ cuốn phăng xuống biển 6 cán bộ, chiến sĩ cách đây 21 năm về trước được thiếu tá Bùi Văn Bổng kể lại trong nước mắt.
Sóng dữ và đêm đen
Trong căn nhà tập thể do đơn vị cấp ở khu tập thể B Lữ đoàn 171 Hải quân, thiếu tá Bùi Văn Bổng- người sống sót trở về sau cơn bão lốc bất ngờ đêm ngày 4/12/1990 bồi hồi kể cho tôi nghe trong trào dâng xúc động. Thiếu tá Bổng giãi bày: “Nói thật, tôi trở về được là do may mắn bám chặt vào được mảnh phao bè, chứ lúc ấy không nghĩ là mình còn sống, lúc đó thương vợ con vô cùng.
Trung tá Nguyễn Đình Thịnh- nhân chứng sống của nhà giàn Phúc Tần đổ năm 1990. |
Trong thét gào của sóng gió, chúng tôi bị sóng quật tơi tả. Tất cả đều khóc. Không phải vì sợ chết, mà thương vợ, con, bố mẹ ở quê nhà. Nếu mình chết đi, con sẽ bơ vơ, sự nghiệp và cuộc đời chấm dứt. Thương vợ con đã đành, càng đau xót hơn là nhà giàn thân yêu của mình đã chìm xuống biển”.
Chiều ngày 4/12/1990, vùng biển thềm lục địa khu vực Phúc Tần bỗng khác thường. Phía Tây trời trong xanh ngăn ngắt, còn phía Đông từng mảng mây đen bất chợt kéo về, chẳng mấy chốc phủ kín bầu trời. Sóng gió nổi lên dữ dội. Nhà giàn Phúc Tần rung bần bật. Trung úy Bùi Văn Bổng lúc đó là chỉ huy trưởng, Thượng úy Nguyễn Hữu Quảng giữ chức vụ chính trị viên. Hai anh đã động viên anh em, sẵn sàng đối phó với sóng bão.
20 giờ đêm 4/12/1990, một đợt sóng mạnh đã đánh bật tung sàn nhà ở. Những tấm gỗ mặt sàn tung tóe trôi trong nước. Sóng mỗi lúc một mạnh dần, mặt biển đen ngòm. Sóng ập vào nhà giàn ngày càng dữ dội. Nhà nghiêng dần, nghiêng dần sang phía Nam. Mọi vật dụng trên nhà bị xô lệch từ góc này sang góc khác. Chính trị viên Nguyễn Hữu Quảng lệnh cho anh em mặc áo phao, sẵn sàng rời đi khi nhà giàn đổ. Nhưng áo phao chỉ còn năm cái trong khi anh em gồm tám người, những cái còn lại do lâu ngày ngấm nước biển đã bị bục. Lúc đó trên nhà có một phao cứu sinh màu cam dạng đời cũ chất liệu bằng cao su. Anh em đã dùng miệng thổi vào, nhưng phao bị thủng lỗ chỗ nên không phồng lên được. Phương án tối ưu lúc này là dùng phao bè, loại phao bên trong là xốp, bên ngoài được bọc một lớp nhôm, hình vuông, có thể chở được một tiểu đội trong điều kiện sóng cấp 6, cấp 7. Chiếc phao bè thả xuống biển liền bị sóng đánh vỡ thành ba mảnh.
Sóng to gió lớn, cập nhà giàn vô cùng nguy hiểm. |
Tình huống vô cùng gian nguy. Làm cách nào đây, nếu nhà đổ? Trong phút giây hiểm nghèo ấy, Bổng đã chỉ huy anh em đã lấy dây thừng kết những tấm gỗ bung lên từ sàn nhà lại với nhau thành một chiếc bè, sẵn sàng rời nhà giàn. Bổng còn căn dặn: “Nhảy xuống biển, anh em cố gắng bám chặt vào thanh gỗ, nhất định chúng ta phải sống và trở về, tàu sẽ đến cứu chúng ta”. Lời động viên ấy tiếp thêm cho các chiến sĩ sức mạnh và sẵn sàng hi sinh.
Có những phút hóa thành bất tử
Tôi xúc động khi đọc bài thơ “Sóng Trường Sa” của tác giả Phan Đăng (Hà Nội) trong bài viết dự thi “Cảm xúc Trường Sa” trên báo Tuổi trẻ ngày 1/11/2011. “Sóng nhắc chúng tôi về một người anh hùng có thật/ người đã nhường chiếc áo phao duy nhất/ cứu anh em mà quên cả thân mình/ giữa biển bao la cột sóng dựng thành hình”. Bài thơ ngợi ca người chính trị viên Nguyễn Hữu Quảng hi sinh quên mình để cứu đồng đội giữa sóng cuồng bão giật cách đây 21 năm về trước.
2 giờ sáng ngày 5/12/1990, những con sóng như quả núi liên tiếp ập vào khiến nhà giàn chao đảo, trong tích tắc nhà chìm vào đêm đen. Bổng hô to: “Tất cả lao ra khỏi nhà đi”. Anh em lao xuống biển một cách vô định, không biết bơi về đâu. Thượng úy Bổng cũng lao theo các chiến sĩ giữa đêm đen mịt mùng, áo phao bị sóng đánh tuột khỏi người, nhưng may mắn vớ được một mảnh phao bè.
Trời tối đen như mực, không ai nhìn thấy ai dù chỉ cách trong gang tấc. Tất cả nhận ra nhau bằng tiếng thét gào. Đúng lúc đó, Bổng nghe tiếng Hồ Thế Công và Phạm Xuân Quỳnh, Bổng hô lớn: “Quỳnh ơi, Công ơi anh ở đây”, rồi rướn mình cho phao lao về phía trước. Công và Quỳnh đã bám được vào mảnh phao bè. Chiếc áo phao của anh Quỳnh bị sóng đánh rách mất một nửa, Công không còn đủ sức bám vào phao nữa. Bổng đã xé áo mình làm dây, buộc tay Công vào mảnh phao bè, nếu chết thì vẫn còn xác. Cả ba chiến sĩ bám vào phao bè suốt gần một đêm một ngày lênh đênh trên biển như thế, ai cũng động viên nhau cố sức bám trụ, chờ tàu đến cứu. Nếu không có tàu đến cứu thì sẵn sàng hi sinh, chìm vào lòng biển, vì không còn sức nữa. Trong khi đó ở một nhóm khác, chính trị viên Nguyễn Hữu Quảng cùng y sĩ Lê Đức Là, chiến sĩ cơ điện Hồ Văn Hiền bám vào thanh gỗ cố chống chọi với bão tố. Anh em lấy lương khô ăn để cố giữ sức. Lương khô mặn chát vì thấm nước biển. 18 giờ trôi trong bão tố, 18 giờ chống chọi với đại dương, 18 giờ xao động nỗi niềm riêng. Biết mình không trụ được nữa, Quảng đã nhường lại miếng lương khô cuối cùng và chiếc áo phao của mình cho đồng đội rồi chìm vào lòng biển. Có ngờ đâu, Là và Hiền cũng bị bão tố nhấn chìm ngay sau đó.
Ngay khi nhận được tín hiệu Nhà giàn Phúc Tần 3 bị đổ, Lữ đoàn 171 đã báo cáo Sở chỉ huy Hải Phòng và điều tàu HQ-711 khẩn cấp đến cứu hộ. Sau 20 giờ tăng tốc, ngụp lặn trong sóng gió, tàu HQ-711 đã cứu được Bổng, Quỳnh, Công. Tàu HQ-711 tiếp tục tìm kiếm đến ngày thứ hai, thứ ba và những ngày sau đó, nhưng không thấy Quảng, Hiền, Là đâu nữa. Vậy là Trung úy Nguyễn Hữu Quảng, y sĩ Lê Đức Là, chiến sĩ cơ điện Hồ Văn Hiền đã bị sóng dữ cướp đi, vĩnh viễn nằm lại biển xanh khi sự nghiệp đang còn dang dở. Đây là 3 cán bộ, chiến sĩ hi sinh đầu tiên của Nhà giàn DK1. Kể lại giờ phút đau buồn trong cơn bão ngày ấy, thiếu tá Bổng mắt đỏ hoe bảo: “Tôi không bao giờ quên được, đó là những giây phút bất tử của cuộc đời tôi”.
Bài và ảnh: Mai Thắng
Kỳ 10: Người lính quả cảm