Chấp hành mệnh lệnh của Đảng ủy Lữ đoàn 171 Hải quân, con tàu mang phiên hiệu HQ-668 của Hải đội 811 Lữ đoàn 171 chở 15 cán bộ chiến sĩ vượt sóng trùng khơi, đánh dấu tọa độ, đo độ sâu, khảo sát các bãi san hô ngầm xúc tiến cho việc đóng Nhà giàn DK1 đầu tiên ở bãi cạn Phúc Tần. Ra đi trong gió mùa đông bắc tràn về, biển động dữ dội, con tàu nhỏ bé cứ chồm lên ngụp xuống trong sóng và ngược gió. “Hoàn thành nhiệm vụ, trở về đất liền an toàn”, họ ra đi với lòng quyết tâm như thế.
Biển mênh mông… và anh sẽ về
Tàu HQ - 668 được mệnh danh là con tàu “lá tre” bởi đây là tàu nhỏ nhất của Hải đội 811. Thời kỳ ấy, tàu Hải quân chưa hiện đại như bây giờ, chủ yếu là tàu vỏ sắt nhiều chủng loại. Riêng tàu HQ- 668 tiếp nhận về nguyên gốc từ tàu cá của Thái Lan. Với trọng tải 150 tấn, con tàu gỗ nhỏ bé này chật chội không kê được giường. Các chiến sĩ ngủ giàn hàng ngang trên sàn gỗ, tiện chỗ nào thì ngủ chỗ đó chứ không qui định cụ thể.
Trung tá Nguyễn Tiến Cường, nguyên là thuyền trưởng tàu HQ668 dẫn chứng tàu HQ668 được ghi trong lịch sử Lữ đoàn 171. |
Chiều ngày 6/11/1988, tạm biệt vợ và 2 con gái, thuyền trưởng Nguyễn Tiến Cường xuống tàu ra đi. Chị Thủy bế con gái thứ hai tiễn chồng ra tận cầu cảng. Thay những lời dặn dò chồng là đôi mắt đỏ hoe. Nhìn vợ, Cường bảo: “Biển mênh mông nhưng anh sẽ về với mẹ con em, nhất định anh sẽ về”, rồi bước chân xuống tàu. Cùng tiễn những người lính xuống cảng hôm ấy, có nhiều người vợ trẻ. Cuộc chia tay bịn rịn ngay trên cầu cảng, những giọt nước mắt, những lời dặn dò lưu luyến của người đi, người ở xúc động nghẹn ngào. Sau sự kiện “Trường Sa 88”, đi biển ngày ấy cũng đồng nghĩa với vào chiến trận. Ai biết trước điều gì sẽ xảy ra?
Dưới sự chỉ huy của Trung tá Phạm Xuân Hoa, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 171, biên đội tàu HQ-668 do thượng úy Nguyễn Tiến Cường làm thuyền trưởng, tàu HQ-713 do Thượng úy Nguyễn Hồng Thưởng làm thuyền trưởng hành trình từ cảng Vũng Tàu ra thềm lục địa. Phương tiện duy nhất trong chuyến hải trình này là chiếc la bàn từ, 2 cuộn dây, 6 cây sào tre để đo độ sâu. Khi ra khỏi cửa biển Vũng Tàu, biên đội tàu gặp phải sóng to gió lớn. Con tàu nhỏ bé chồm lên ngụp xuống trong sóng và ngược gió, có lúc chỉ tiến được 2-3 hải lý/giờ. Đúng lúc đó, gió mùa đông bắc tràn về, càng làm cho sóng dữ dội. Tất cả các thủy thủ đều say sóng. Do làm tốt công tác động viên tư tưởng, nên không chiến sĩ nào có tư tưởng nôn nóng hoặc thoái thác nhiệm vụ.
Do không có định vị vệ tinh, nên biên đội tàu sau 3 ngày hải trình đã đi lạc vào vùng biển đảo Đá Lát. Đúng lúc đó thì tàu HQ-713 bị vỡ lốc máy. Lệnh của Lữ đoàn trưởng Trung tá Phạm Xuân Hoa, tàu HQ-713 bằng mọi cách khắc phục sửa chữa lốc máy, tàu HQ-668 khẩn trương hành trình về hướng Nam (khu vực biển bãi cạn Ba Kè), nhanh chóng khảo sát, đo độ sâu. Theo phán đoán của Trung tá Hoa, một hai ngày nữa sẽ có bão lốc tại vùng biển này. Dưới sự chỉ huy của thuyền trưởng Thượng úy Nguyễn Tiến Cường, các thủy thủ đã dùng dây thừng thắt nút cách nhau từng mét, một đầu buộc đá thả xuống biển. Nước ngập đến đâu, đếm nút thắt dây, tính ra độ sâu đến đó. Những cây sào dài hơn chục mét không phát huy được tác dụng vì dòng chảy mạnh và mực nước sâu đến trên 20 mét. Thuyền trưởng Cường vừa đưa cây sào xuống biển đã bị dòng nước chảy mạnh làm gãy đôi. Tất cả đều nhờ vào sợi dây thừng. Sau 3 ngày khảo sát, các thủy thủ đã tìm được vị trí tọa độ trùng khớp với tọa độ đã ghi trên bản đồ, đo được độ sâu tương đối chính xác, thả phao quả nhót đánh dấu. Vị trí khảo sát đầu tiên ở bãi cạn Phúc Tần A đã hoàn thành, các thủy thủ tiếp tục hành trình đến các bãi cạn Huyền Trân, Quế Đường, Phúc Tần, Phúc Nguyên, Tư Chính và Cà Mau.
Chống chọi với bão tố
Sau khi tìm được bãi cạn và tọa độ xây dựng nhà giàn, ngày 26/11/1988, hai biên đội tàu HQ-713 và HQ- 668 của Lữ đoàn 171 dưới sự chỉ huy của Lữ đoàn phó chính trị Trung tá Hoàng Kim Nông, biên đội tàu HQ-727,HQ-723 của Hải đoàn 129 do Trung tá Trần Xuân Vọng chỉ huy hành trình ra các bãi cạn đã được đánh dấu từ trước và tổ chức canh gác tại đây.
Nhiều lúc, con tàu như bị nuốt vào lòng biển. |
Giữa biển mênh mông sóng dữ, đời sống của các chiến sĩ vô cùng khó khăn gian khổ. Thức ăn lúc đó chủ yếu là rau muống phơi khô và đồ hộp. Do sóng lớn, toàn bộ khoang nước ngọt dưới hầm tàu bị nhiễm mặn hòa lẫn với gỉ sét. Các chiến sĩ đã dùng áo lót căng lên mặt xô, lọc nước nhiễm gỉ sét, hoặc gạn lắng nước trong để nấu cơm. Vì không có nước ngọt nên các chiến sĩ không có “kế hoạch” tắm. Tất cả tắm bằng nước biển, nước ngọt chỉ tráng sau cùng. Vì thiếu nước ngọt, có chiến sĩ cả tháng không đánh răng, họ chấp nhận sống đời “ngư phủ”. Ngày ấy, việc quan sát mặt biển canh gác chủ yếu là mắt thường và kinh nghiệm thực tiễn chứ không có phương tiện hiện đại như bây giờ. Để bảo đảm an toàn tuyệt đối, ngày cũng như đêm, các thủy thủ tăng cường quan sát, phát hiện những động thái từ xa và sẵn sàng chiến đấu khi có lệnh.
Nghĩ lại những ngày gian khó ấy, trung tá Nguyễn Tiến Cường bảo: “Ngày ấy, những lúc thảnh thơi, ngồi trên mũi tàu nhớ nhìn về phía chân trời nhớ nhà vô cùng. Tuy không ai nói câu gì, nhưng trong thâm tâm ai cũng suy nghĩ, giờ này vợ con mình đang làm gì, ở đâu? Và nếu mình có hi sinh thì ai là người thay mình gánh vác gia đình. Những điếu thuốc Đà Lạt truyền tay nhau, ca nước ngọt sẻ chia, những câu chuyện tiếu lâm phá tan dòng suy nghĩ. Sau những giây phút trầm tư ấy, là sự lo toan cho con tàu, trước sóng và gió mùa đông bắc tràn về”.
Mai Thắng
Kỳ 4: “Nhà giàn đầu tiên”