Chuyến hàng đầu tiên vượt biển khai phá ra con đường huyền thoại trên Biển Đông mang tên Bác Hồ kính yêu vào chiều tối ngày 27/1/1960 sau 5 tháng “diễn tập”. Đó là một ngày cuối đông không thể nào quên được đối với cán bộ chiến sĩ Tiểu đoàn 603.
Đêm giao thừa năm ấy
Chiều tối ngày 27/1/1960, gió mùa đông bắc tràn về. Sông Gianh ầm ập sóng vỗ, “Tập đoàn đánh cá Sông Gianh” rời vị trí tiếp nhận 5 tấn vũ khí, thuốc men chi viện cho chiến trường Khu 5, địa điểm cập bến là bến Hồ Chuối phía nam chân đèo Hải Vân. Để tuyệt đối giữ bí mật về phương thức vận chuyển vũ khí trên biển, Tiểu đoàn 603 đưa ra hai phương án tác chiến. Thứ nhất, nếu đưa được hàng vào bến, sau khi bốc dỡ xong sẽ hủy tàu rồi đi theo đường bộ trở về đơn vị. Thứ hai, nếu lạc đường, lạc hướng thì thả hàng xuống biển để giữ bí mật rồi lần tìm đường về đơn vị. Trong trường hợp bị địch phát hiện, bao vây thì cho phép nổ mìn phá tàu và hi sinh.
Các chiến sĩ đoàn tàu không số tỉnh Bến Tre. Ảnh: Tư liệu |
Chiếc thuyền nhỏ bé của đại đội 1 thuộc tiểu đoàn 603 nhổ neo lúc 18 giờ chiều 30 Tết Canh Tý. 6 người trên con tàu nhỏ bé ấy gồm Đại đội trưởng Nguyễn Bất làm thuyền trưởng, Trần Mức làm thuyền phó, 4 thành viên còn lại là Huỳnh Ba, Nguyễn Sơn, Nguyễn Sinh và Nguyễn Ngữ. Tất cả lúc đó đều ở tuổi thanh xuân. Chỉ còn 6 tiếng đồng hồ nữa là đến giao thừa, nhưng anh em quyết tâm ra đi, không ai nghĩ mình sẽ ở lại đón giao thừa cùng gia đình, dù biết chuyến đi sẽ gặp muôn vàn khó khăn gian khổ và có thể phải hi sinh. Bất nói với anh em: “Cuộc vượt biển giữa đêm 30 Tết này là mệnh lệnh trái tim người lính. Tiền tuyến đang chờ chúng ta, cả miền Nam đang mong đợi chúng ta, các đồng chí hãy nén việc riêng mà hoàn thành nhiệm vụ”. Lời nói của Bất như luồng máu nóng chảy vào tim, tiếp thêm sức mạnh cho mỗi chiến sĩ về tình yêu nước. Họ quyết tâm ra đi mà không hề tính toán, nghĩ suy. Nắm chặt tay nhau trước khi dong thuyền ra khơi, 6 người thề giữ vững chí khí chiến đấu, nếu bị địch bắt dù phải hi sinh cũng không được xưng khai.
Đêm đầu, thuyền chạy thẳng ra vùng biển quốc tế với ý định từ đó sẽ đi dần vào chân đèo Hải Vân. Ngày hôm sau, sóng to, gió lớn, thuyền có nguy cơ bị lật, 6 người cố chèo chống nhưng thuyền cứ trôi mãi về phía Nam. Một bên lái của thuyền bị gãy, buồm rách toạc. Ngày thứ 3, thuyền lạc vào Cù Lao Ré (đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi ngày nay) và bị gãy nốt bên lái còn lại nên anh em không thể cho tàu ngược lên. Gió bắt đầu lặng, tàu đánh cá của dân ra khơi đông, tàu tuần tiễu của địch cũng tăng cường kiểm soát. Không thể để tàu rơi vào tay giặc và lộ con đường bí mật, thuyền trưởng Nguyễn Bất đã quyết định phi tang 5 tấn súng đạn và thuốc men xuống biển và dìm thuyền, mọi người nhìn 5 tấn vũ khí thuốc men, nhìn con thuyền thân yêu của mình tiếc như đứt từng khúc ruột. Chiều hôm đó, cả 6 thủy thủ trên tàu bị địch bắt. Dù có giấy tờ giả hợp pháp là đi đánh cá bị lạc nhưng địch vẫn tách ra, giam ở Đà Nẵng, sau đó chuyển đi Phú Lợi, có người bị đày đi Côn Đảo. Lời thề quyết không khai và chiến đấu đến hơi thở cuối cùng được các chiến sĩ kiên trung giữ trọn. Tại các nhà giam này, 5 thủy thủ đã hi sinh, chỉ còn lại đồng chí Huỳnh Ba, năm 1974 trở về.
Chuyến vượt biển đầu tiên đưa vũ khí vào Khu 5 thất bại. Quân ủy Trung ương nhận thấy việc dùng thuyền gỗ, chạy bằng buồm chở vũ khí vào chiến trường có rất nhiều khó khăn và không an toàn, vì vậy Bộ Quốc phòng chỉ thị cho Tiểu đoàn 603 tạm ngừng hoạt động để tìm một phương thức vận chuyển mới.
Tiếp nối những chuyến tàu huyền thoại
Trong khi chờ phương thức vận chuyển vũ khí từ miền Bắc đi bằng đường biển vào miền Nam, Trung ương Đảng đã chỉ thị cho các tỉnh Nam bộ chuẩn bị bến bãi và cho thuyền ra miền Bắc vừa thăm dò, mở đường, vừa nghiên cứu phương tiện vận chuyển trên biển và báo cáo tình hình, nếu có điều kiện thì chở vũ khí về.
| Tàu không số vượt biển trên đường hàng hải quốc tế. Ảnh: Tư liệu |
Cuối năm 1960, đầu năm 1961, tỉnh Bến Tre đã tổ chức hai đội tàu. Đội tàu thứ nhất do đồng chí Đặng Bá Tiên (Sáu Giao) làm đội trưởng. Sau 9 ngày đêm vật lộn với sóng gió và né tránh sự kiểm soát của địch, ngày 9/6/1961, thuyền đã chở 6 anh em cập vào Hà Tĩnh. Đội tàu thứ hai do đồng chí Lê Công Cẩn (Năm Công) phụ trách. Ngày 28/8/1961, thuyền cập vào Thanh Hóa, đó là chuyến tàu huyền thoại thứ nhất.
Chuyến tàu huyền thoại thứ hai xuất phát từ tỉnh Bạc Liêu (còn gọi là đội thuyền Cà Mau) cử hai đội thuyền ra Bắc. Đội thuyền thứ nhất do đồng chí Bông Văn Dĩa (Hai Dĩa) phụ trách. Ngày 7/8/1961, thuyền cập cửa sông Nhật Lệ (Quảng Bình). Đội thuyền thứ hai do đồng chí Nguyễn Thanh Trầm (Tư Lưới) phụ trách. Ngày 3/8/1961, thuyền xuất phát, nhưng khi đi ngang qua Huế, thuyền đã bị thủng và nước tràn vào, phải quay trở lại Trà Vinh để sửa chữa.
Chuyến tàu huyền thoại thứ ba của tỉnh Trà Vinh xuất phát ngày 6/8/1961 do đồng chí Hồ Văn In (Bảy Thắng) làm đội trưởng, đồng chí Nguyễn Thanh Lồng (Hai Tranh) làm Chính trị viên. Khi ra tới Nha Trang, gặp bão, phải dạt sang Ma Cao (Trung Quốc) sau đó tiếp tục đi. Ngày 15/8/1961, tàu bị bộ đội biên phòng Trung Quốc giữ và kéo về Du Hải - Quảng Châu. Ngày 16/8/1961, đại diện Đại sứ quán Việt Nam đón và anh em được đưa về Hà Nội.
Chuyến tàu huyền thoại cuối cùng ra tới miền Bắc ngày 15/5/1962 là thuyền của tỉnh Bà Rịa do đồng chí Nguyễn Sơn (Nguyễn Văn Phe) xã đội trưởng xã Phước Hải làm đội trưởng, đồng chí Lê Hà (Lê Văn Mây) làm đội phó. Đóng góp cho chuyến đi này có 10 cây vàng của bà má Nguyễn Thị Mười (Mười Riều). Ngoài việc ủng hộ vàng mua thuyền, má Mười Riều còn gửi gắm đứa con trai yêu thương Lê Hà làm thủy thủ tàu. Đến Cam Ranh, tàu bị địch bắt. Sau khi khai thác hơn một tháng không được gì, tàu được thả. Phải bán lưới để mua xăng dầu, ngày 19/4/1962, 6 chiến sĩ trên con tàu ấy tiếp tục lên đường. Sau khi dạt vào đảo Hải Nam, ngày 15/5/1962, đoàn được đón về đến Hà Nội.
Ông Nguyễn Văn Đức (Ba Đức), sinh năm 1941, thủy thủ tàu Bến Tre, hiện là Phó ban Liên lạc Cựu chiến binh Đoàn tàu không số TP Hồ Chí Minh, nhớ lại: “Bến Tre là nơi khởi đầu phong trào đồng khởi cho những con tàu huyền thoại nối tiếp nhau vượt biển ra Bắc. Những năm ấy, các tàu của ta đi trong điều kiện bị phong tỏa cả đường thủy, đường bộ, thiếu thốn vũ khí, thuốc men, nhưng đi đến đâu cũng được nhân dân hết lòng ủng hộ đến đấy. Ngày ấy, thanh niên trai tráng chúng tôi tràn đầy sức sống, lòng phơi phới niềm tin phong trào cách mạng. Điều kiện thiếu thốn, công tác chuẩn bị sơ sài vì không đủ tiền, không có la bàn, hải đồ, thuyền thì nhỏ bé nhưng tất cả đều xác định tốt nhiệm vụ và sẵn sàng hi sinh, ra đi không hẹn ngày trở lại, không ai tính toán suy nghĩ gì”.
Mai Thắng
Để tiếp tục vận chuyển vũ khí từ miền Bắc chi viện cho chiến trường miền Nam và phát huy nội lực của các thủy thủ, Ngày 23/10/1961, Bộ Quốc phòng ra Quyết định thành lập Đoàn vận tải thủy có nhiệm vụ chi viện vũ khí cho miền Nam bằng đường biển mang tên Đoàn 759 - tiền thân của Lữ đoàn 125 ngày nay. Đoàn 759 ra đời với mật hiệu “Đoàn tàu không số” với sứ mệnh mới. Kỳ 3: “Mở đường thắng lợi”