Những câu chuyện về Đường Hồ Chí Minh trên biển

Những câu chuyện về Đường Hồ Chí Minh trên biển - Kỳ 1: Con đường chiến lược trên biển

Ngày 23/10/1961, theo Chỉ thị của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam đã quyết định thành lập đoàn 759, tiền thân của Lữ đoàn 125 Hải quân ngày nay.

Ngày 23/10/1961, theo Chỉ thị của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam đã quyết định thành lập đoàn 759, tiền thân của Lữ đoàn 125 Hải quân ngày nay. Với tên gọi “Đoàn tàu không số” để vận chuyển vũ khí trang bị đạn dược cho chiến trường miền Nam. Đường Hồ Chí Minh trên biển đã vận chuyển 150.000 tấn vũ khí trang bị, 80.000 lượt cán bộ, và 1.789 chuyến tàu vượt biển; trở thành con đường huyết mạch nối liền máu thịt giữa hai miền Nam Bắc - con đường của niềm tin thắng lợi, là niềm tự hào của bộ đội Hải quân và cả dân tộc Việt Nam.

Vượt lên bao thử thách cam go, đi qua nhiều vùng biển dưới mưa bom bão đạn, chịu đựng đến tột cùng của sự hy sinh, 34 chiến sĩ đầu tiên của “Đoàn tàu không số” đã kiên gan, bền bỉ đấu tranh cả về trí, dũng và lực với kẻ thù để giành chiến thắng, đưa con đường vận tải biển ngày ấy trở thành con đường huyền thoại trên biển mang tên Hồ Chí Minh.

Kỳ 1: Con đường chiến lược trên biển

Để chi viện cho miền Nam đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, ngày 19/5/1959, Quân ủy Trung ương quyết định thành lập "Đoàn quân sự đặc biệt" có nhiệm vụ mở đường, vận chuyển vũ khí, lương thực, tổ chức đưa đón bộ đội từ Nam ra Bắc và ngược lại. Hai con đường huyết mạch quan trọng được hình thành. Đó là con đường 559 theo dãy Trường Sơn và đường vận tải thủy- sau đó được đổi tên thành đường Hồ Chí Minh trên biển.

Tầm nhìn của chiến lược

Ngày 23/3/1959, chính quyền Ngô Đình Diệm tuyên bố đặt miền Nam Việt Nam trong tình trạng chiến tranh. Tháng 5/1959, Ngô Đình Diệm ban hành Luật 10/59, lê máy chém đi khắp miền Nam, tàn sát các chiến sĩ cộng sản, khủng bố dã man phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân, gây bao đau thương tang tóc. Trước tình hình đó, Quân ủy Trung ương đã triển khai hàng loạt công tác chuẩn bị cho cuộc chiến đấu ở miền Nam và xác định: “Muốn đánh thắng kẻ thù nhất thiết phải có vũ khí và phương tiện, không thể đánh Mỹ bằng tay vo”. Nhưng trong lúc này, chiến trường miền Nam đang thiếu thốn trăm bề, không thể tự phát huy “nội lực” được, nếu không có sự chi viện của hậu phương lớn từ miền Bắc.

Những câu chuyện về Đường Hồ Chí Minh trên biển - Kỳ 1: Con đường chiến lược trên biển ảnh 1

Bia ghi nhớ “Đoàn tàu đánh cá Sông Danh” xuất kích ngày đầu tiên tại sông Danh, Quảng Bình. Ảnh: tư liệu


Đảng ta nhận định: Nếu chỉ trông vào lực lượng vận chuyển vũ khí bằng đường bộ của tiểu đoàn 301, các tỉnh ở Nam bộ sẽ rất thiếu vũ khí. Quân ủy Trung ương đặt câu hỏi: Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, chúng ta từng dùng thuyền chở vũ khí vượt biển từ miền Bắc, từ Campuchia và từ Thái Lan vào chi viện cho miền Nam đánh giặc, tại sao bây giờ không vận chuyển bằng đường biển?

Việc mở đường vận chuyển vũ khí đạn dược chi viện cho chiến trường miền Nam bằng đường thủy là tầm nhìn chiến lược, sáng suốt của Đảng ta. Đảng ta nhận định: Cùng với đường bộ 559 dọc theo dãy Trường Sơn, muốn nhanh chóng chuyển vũ khí chi viện cho miền Nam đánh Mỹ, nhất thiết phải chuyển vũ khí bằng đường biển, đó là điều kiện tiên quyết cần phải giải quyết khẩn trương.

Xét về so sánh lực lượng và hiệu quả việc vận chuyển vũ khí đạn dược chi viện cho chiến trường miền Nam theo 2 đường bộ và thủy, Đảng ta và Quân ủy Trung ương nhận định: Nếu vận chuyển bằng đường 559 dọc theo dãy Trường Sơn sẽ mất thời gian 60 ngày cho mỗi chuyến xe chạy từ Bắc vào Nam. Lực lượng vận chuyển chủ yếu là bộ đội, dân quân, công nhân hỏa tuyến, mỗi người chỉ 25 - 40 kg súng, đạn trên vai. Nếu chở bằng xe ô tô tải, mỗi xe cũng chỉ được 4 - 5 tấn vũ khí, trong quá trình di chuyển dễ bị lộ bí mật, bị bom đạn Mỹ oanh tạc. Mặt khác, từ đầu năm 1959, Mỹ - ngụy ráo riết canh gác, phục kích, oanh tạc tuyến đường 559 dọc theo dãy Trường Sơn. Bắt đầu từ vĩ tuyến 17 dọc phía đông Trường Sơn, các đồn bốt, trạm gác, các ổ phục kích của địch bố trí rất cẩn mật. Các đoàn xe của ta bí mật chở vũ khí đạn dược vào Nam khi đến vĩ tuyến 17 sẽ bị “chặn đứng” ở đây, vì địch bố phòng nghiêm ngặt, buộc ta phải đi theo đường mòn, vòng sườn tây Trường Sơn sang Lào, sau đó mới chuyển vũ khí vào khu 5. Đây chính là điều bất lợi cho việc vận chuyển vũ khí theo đường bộ.

Xét về vận chuyển bằng đường thủy, Đảng ta nhận định có nhiều thuận lợi. Chỉ cần 10 - 15 người trên một con tàu và mất 3-5 ngày là có thể chở hàng trăm tấn vũ khí vào Nam, tốn ít công sức, bí mật, nhanh chóng và an toàn. Mặt khác, thuận lợi của chở vũ khí bằng đường biển là ta ngụy trang tốt hơn, hành trình trên vùng biển quốc tế tránh được địch kiểm soát. Chính vì lý do ấy mà Đảng ta và Quân ủy Trung ương quyết định mở đường vận tải trên biển.

Tập đoàn đánh cá sông Gianh ra đời

Trả lời cho câu hỏi: Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, chúng ta từng dùng thuyền chở vũ khí vượt biển từ miền Bắc, từ Campuchia và từ Thái Lan vào chi viện cho miền Nam đánh giặc, tại sao bây giờ không vận chuyển được bằng đường biển? Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tham mưu quyết định thành lập Đoàn Vận tải thủy lấy Tiểu đoàn 603 làm nền tảng, đóng quân tại thôn Thanh Khê, xã Thanh Trạch, huyện Bố Trạch, Quảng Bình bên bờ sông Gianh, có nhiệm vụ đóng tàu thuyền và vận chuyển vũ khí trên biển chi viện cho miền Nam.

Những câu chuyện về Đường Hồ Chí Minh trên biển - Kỳ 1: Con đường chiến lược trên biển ảnh 2

“Tàu không số” vượt biển chở vũ khí vào Nam. Ảnh: tư liệu


Tiểu đoàn 603 có 107 người do đồng chí Hà Văn Xá làm Tiểu đoàn trưởng, đồng chí Thượng úy Lưu Đức làm Chính trị viên. Tiểu đoàn được biên chế thành hai đại đội. Đại đội 1 do Trung úy Nguyễn Bất làm Đại đội trưởng, Trung úy Đồng Yên làm Chính trị viên, Đại đội 2 do Trung úy Lê Quang làm Đại đội trưởng, Trung úy Trương Kia làm Chính trị viên. Để giữ bí mật, đơn vị không dùng tàu thuyền của vùng sông Gianh mà cử người ra xã Nghi Thiết, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An đặt đóng thuyền hai đáy. Đây là loại thuyền ngụy trang, đáy dưới để vũ khí, đáy trên để lưới và ngư cụ đánh cá, trọng tải mỗi chiếc 20 tấn theo mẫu của Ban Thống nhất Trung ương. Được sự giúp đỡ của Ủy ban Hành chính tỉnh Quảng Bình và Sư đoàn 325, chỉ sau 2 tháng, 4 chiếc thuyền hai đáy đã đóng xong.

Có tàu, cán bộ chiến sĩ Tiểu đoàn 603 vui mừng khôn xiết. Tranh thủ thời tiết tốt, biển lặng ra khơi để "đánh cá". Nói là đi "đánh cá" nhưng thực chất là cuộc diễn tập cho cuộc vượt biển sắp tới. Từ việc quăng chài, thả lưới, rèn luyện sức chịu đựng sóng gió, tập lấy phương hướng theo sao trời, theo địa hình. Ban đầu, đội chỉ tập gần bờ, dần đến xa bờ và sau đó là ra khơi. Những lúc không đi biển, đơn vị tổ chức học tập chính trị và kỹ thuật, nâng cao trình độ giác ngộ giai cấp, tinh thần yêu nước và lòng căm thù giặc, sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp cách mạng. Nguyên tắc giữ bí mật mà tất cả các cán bộ, chiến sĩ trong tiểu đoàn đều biết đó là: Nếu bị địch bắt thì dù có chết cũng không được khai.

Ông Nguyễn Hữu Tuần (82 tuổi) đã nghỉ hưu, nguyên sĩ quan tham mưu tác chiến của Bộ Tư lệnh Hải quân tự hào kể: “Nói đến “Đoàn tàu không số” thì không thể không nói đến Đoàn tàu đánh cá sông Gianh, bởi đây là đoàn tàu khơi mạch nguồn đầu tiên mở đường trên biển. Các chú biết sao Quân ủy Trung ương chọn sông Gianh làm chuyến đầu xuất phát không? Vì đây là con sông lớn chạy qua tỉnh Quảng Bình và cắt ngang quốc lộ 1. Khu vực này có cảng và là nơi cửa sông nên hằng ngày có rất nhiều tàu bè ra vào, cả tàu quốc doanh lẫn tàu đánh cá của ngư dân nên dễ trà trộn, khó bị địch phát hiện, tiện cho chỉ huy và bố trí lực lượng của tàu ta. Tập đoàn đánh cá sông Gianh là niềm tự hào của bộ đội Hải quân”.

Trong khi Tiểu đoàn 301 mở đường bộ vượt sông Bến Hải thì Tiểu đoàn 603 (Tập đoàn Đánh cá sông Gianh) bắt tay vào làm doanh trại, đóng thuyền, sắm lưới và luyện tập đi biển và sẵn sàng bước vào cuộc chiến đấu mới, đó là chuyến xuất kích mở đường đầu tiên cho những con tàu sau này vượt biển.

Mai Thắng

Sau 5 tháng “diễn tập” cho cuộc vượt biển, chập tối một ngày mùa đông giá rét năm 1960, thuyền của đại đội 1, tiểu đoàn 603 đã nhổ neo rời bến. Đây là chuyến vượt biển đầu tiên từng bước khai phá ra con đường huyền thoại trên biển mang tên Hồ Chí Minh.
Kỳ 2 “ Chuyến hàng đầu tiên không thành”.