Những câu chuyện về Đường Hồ Chí Minh trên biển

Những câu chuyện về Đường Hồ Chí Minh trên biển - Kỳ 3: Mở đường thắng lợi

Cuối năm 1961, đầu năm 1962, nhằm chống lại phong trào cách mạng của quân và dân ta ở miền Nam sau khi Mặt trận giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời, Mỹ đã đưa ra kế hoạch bình định miền Nam trong vòng 18 tháng thông qua “chiến tranh đặc biệt.

Cuối năm 1961, đầu năm 1962, nhằm chống lại phong trào cách mạng của quân và dân ta ở miền Nam sau khi Mặt trận giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời, Mỹ đã đưa ra kế hoạch bình định miền Nam trong vòng 18 tháng thông qua “chiến tranh đặc biệt” với công thức “quân đội Sài Gòn cộng với cố vấn quân sự mỹ, vũ khí Mỹ và viện trợ kinh tế của Mỹ”. Để đối phó kịp thời với âm mưu thâm độc của Mỹ và bảo đảm vũ khí chi viện cho chiến trường miền Nam, những chiến sĩ Hải quân Đoàn 759 đã bước vào cuộc chiến đấu mới.

Sẵn sàng hy sinh

Sau phong trào Đồng khởi năm 1960 thắng lợi, cách mạng miền Nam chuyển biến mạnh mẽ, cục diện chiến trường có nhiều thay đổi theo chiều hướng có lợi cho ta. Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam việt Nam ra đời tập hợp mọi tầng lớp nhân dân yêu nước đứng lên chống lại Mỹ - Diệm, chính quyền Ngô Đình Diệm đứng trước nguy cơ sụp đổ. Để cứu vãn tình thế và chiếm lại những địa bàn, vùng dân cư đã mất, đầu năm 1962, đế quốc Mỹ thực hiện Chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”.

Những câu chuyện về Đường Hồ Chí Minh trên biển - Kỳ 3: Mở đường thắng lợi ảnh 1

Tượng đài ghi nhớ đoàn tàu không số tại Cà Mau.


Âm mưu cơ bản của chiến lược này là càn quét, dồn dân vào ấp chiến lược trên quy mô lớn, đưa hàng triệu nông dân miền Nam vào trại tập trung, tách lực lượng cách mạng ra khỏi dân; tăng cường bắn pháo, ném bom, rải chất độc hóa học diệt sự sống trên mặt đất. Trước tình hình đó, Nghị quyết của Bộ Chính trị về nhiệm vụ trước mắt của cách mạng miền Nam chỉ rõ: “Tích cực xây dựng lực lượng về mọi mặt, nhất là xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang tập trung của miền, quân khu, bằng mọi giá phải đánh bại âm mưu thâm độc và chiến tranh đặc biệt của Mỹ, không thể chậm trễ”.

Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, sau khi rút kinh nghiệm các chuyến vận chuyển đường biển từ Bắc vào Nam chưa thành công, Đoàn 759 quyết định để thuyền “Bạc Liêu” đi chuyến trinh sát, mở đường từ Bắc vào Nam. Thuyền gồm 6 người do đồng chí Bông Văn Dĩa là Bí thư Chi bộ phụ trách, đồng chí Hai Tranh là Phó Bí thư chi bộ. Đêm 10/4/1962, thuyền rời cửa Nhật Lệ (Quảng Bình) đi về hướng nam, ngày 14/4/1962, khi thuyền đến vùng biển Nha Trang thì gặp tàu Mỹ. Lúc đó 6 chiến sĩ bình tĩnh đối phó với Mỹ và sẵn sàng hủy tàu hi sinh. Tàu Mỹ chạy vòng quanh quần đảo từ 8 giờ sáng đến 14 giờ chiều.

Để cứu vãn tình thế nguy cấp lúc ấy, chiến sĩ Bông Văn Dĩa đã chỉ huy anh em ném hết hải đồ, la bàn xuống biển, mặc quần áo ngư dân và thống nhất phương án: Nếu bị địch bắt tra hỏi thì nói “Ngư dân đánh cá, gặp sóng gió to nên đẩy thuyền ra xa, xin được cứu trợ”, nếu tình huống bị bại lộ hoàn toàn thì nổ mìn hủy tàu và hi sinh, quyết không để lộ đường bí mật. Nhờ trí thông minh và nghi binh khôn khéo nên địch tưởng ngư dân, không bám theo nữa. Bông Văn Dĩa chỉ huy 5 thủy thủ tiếp tục hành trình về phía Nam. Sau 8 ngày lênh đênh trên biển, sáng 18/4/1962, thuyền tới cửa Bồ Đề (thuộc Tân Ân - Ngọc Hiển - Cà Mau) và tiếp tục đi vào cửa Rạch Ráng, 10 giờ đêm hôm đó cập vào Vàm Lũng. Kết thúc chuyến trinh sát mở đường thắng lợi.

Khi nói về việc hóa trang thành những ngư dân, Đại tá Bông Văn Dĩa, nguyên là thủy thủ trên con thuyền gỗ chỉ huy chuyến trinh sát mở đường ngày ấy tự hào: “Lúc đó chúng tôi chẳng sợ gì vì xác định sẵn sàng hi sinh, hủy tàu. Thật ra phương án đóng giả ngư dân đánh cá đã được chuẩn bị từ trước, nên có tình huống là xử lý thôi. Không ngờ bọn chúng cũng thua 6 ngư dân bất đắc dĩ này. Chúng tôi xác định, luôn sẵn sàng hi sinh nên trước khi đi chiến đấu đã làm lễ truy điệu sống ở nhà”.

Nối liền Nam - Bắc

Trung tuần tháng 8/1962, Quân ủy Trung ương thông qua Nghị quyết mở đường vận chuyển chiến lược trên biển. Bắt đầu từ đây, Đoàn 759 bước vào một giai đoạn vận chuyển mới. Tháng 8/1962, Đoàn 759 nhận bàn giao 4 tàu gỗ từ Xưởng đóng tàu I (Hải Phòng) và tiếp nhận bổ sung cán bộ. Đêm 11/10/1962, chiếc tàu gỗ đầu tiên chở 30 tấn vũ khí rời bến Đồ Sơn (Hải Phòng) lên đường đi Cà Mau do đồng chí Lê Văn Một làm thuyền trưởng, đồng chí Bông Văn Dĩa làm Chính trị viên cùng 11 thủy thủ chở 30 tấn vũ khí từ hậu phương miền Bắc đã được cập cảng Vàm Lũng đêm 19/10 an toàn. Đường biển được nối liền giữa hậu phương miền Bắc với tiền tuyến miền Nam bằng tất cả nhiệt huyết, máu xương của các thủy thủ đoàn tàu không số.

Những câu chuyện về Đường Hồ Chí Minh trên biển - Kỳ 3: Mở đường thắng lợi ảnh 2

Các chiến sĩ đoàn tàu không số vận chuyển vũ khí trang bị xuống tàu chi viện cho chiến trường miền Nam.

Phát huy kết quả của tàu thứ nhất, lần lượt tàu thứ hai, thứ ba và tàu thứ tư tiếp tục vượt biển vào bến Cà Mau. Để đảm bảo bí mật cho tuyến đường vận tải đặc biệt, những chiếc tàu của Đoàn 759 phải cải hoán thành tàu đánh cá, không có số hiệu cố định, xen kẽ, trà trộn vào những đoàn tàu đánh cá của ngư dân địa phương trên biển, tên gọi “Đoàn tàu không số” được ra đời từ đây. Trong hai tháng, những con tàu không số đã vận chuyển 111 tấn vũ khí cho Khu 9 an toàn, đây là một thắng lợi lớn khi mà phong trào cách mạng ở miền đất cực Nam Tổ quốc đang lên cao, rất cần vũ khí để đập tan các cuộc càn quét của Mỹ ngụy. Khi tuyến đường vận tải biển được khai thông, những tấn vũ khí đầu tiên đến với lực lượng vũ trang Cà Mau (10/1962), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi điện biểu dương khen ngợi Đoàn 759: “Các đồng chí hãy nhanh chóng rút kinh nghiệm, tiếp tục vận chuyển nhanh hơn nữa, nhiều hơn nữa vũ khí cho đồng bào miền Nam giết giặc".

Lời Bác Hồ khen như tiếp thêm sức mạnh, những thủy thủ tàu không số bước vào cuộc chiến đấu mới với những con tàu vỏ sắt có trọng tải từ 50 đến 100 tấn đóng tại xưởng đóng tàu Hải Phòng vào cuối năm 1962. Ngày 17/3/1963, chiếc tàu vỏ sắt đầu tiên do đồng chí Đinh Đạt làm thuyền trưởng, đồng chí Nguyễn Văn Tiến làm Chính trị viên chở 44 tấn vũ khí lên đường và đã vào bến Trà Vinh an toàn. Xưởng đóng tàu III (Hải Phòng) tiếp tục cho hạ thủy chiếc tàu thứ 2, rồi tàu thứ 3, thứ 4, thứ 5 và tàu thứ 6.

Nhờ đó, trong năm 1963, Đoàn 759 đã tổ chức nhiều chuyến chở hàng hóa, vũ khí; những chuyến tàu cùng cán bộ, chiến sỹ lặng lẽ, bí mật, nối tiếp nhau rời bến, cập bến chi viện cho chiến trường miền Nam. Mỗi chuyến ra khơi là mỗi lần thử thách đầy khó khăn, gian khổ, căng thẳng, hiểm nguy đối với cán bộ, chiến sỹ. Bởi họ không chỉ đấu trí với kẻ thù mà còn phải vượt qua sóng gió, thử thách của thiên nhiên khắc nghiệt. Trong Đoàn, không tàu nào biết tàu nào, trước khi lên đường, cán bộ chiến sỹ không tiếp xúc bạn bè, người thân. Nhờ có tổ chức tốt, kỷ luật nghiêm, ý thức trách nhiệm cao, tinh thần vững vàng và trình độ chuyên môn giỏi, những chuyến đi của Đoàn đều hoàn thành tốt nhiệm vụ và giữ được bí mật. Chỉ trong vòng 1 năm, Đoàn 759 đã thực hiện 29 chuyến hàng vào Nam bộ, vận chuyển 1.430 tấn vũ khí cho chiến trường, đây là chiến công to lớn trực tiếp góp phần quan trọng vào chiến thắng của quân và dân miền Nam.

Mai Thắng

Chỉ bằng chiếc ghe mui trần, không la bàn từ dẫn, hành trang của 6 chiến sĩ miền Đông Nam bộ đầu tiên của đoàn tàu không số ở Phước Hải, huyện Long Đất (nay là huyện Đất Đỏ) tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu là 6 hộp sữa bò, 12 cheo lưới, 6 bộ quần áo, 6 giấy thế thân, đã bí mật vượt biển ra Bắc tiếp nhận vũ khí. Họ ra đi với lòng yêu nước nồng nàn và tình yêu quê hương vô hạn.

Kỳ 4: “Cuộc vượt biển đẫm nước mắt”