Để giúp các trường, phụ huynh và thí sinh hiểu rõ hơn về tinh thần của dự thảo, phóng viên đã có cuộc trao đổi với GS.TS Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT).
Bộ GD&ĐT vừa đưa ra lấy ý kiến dự thảo sửa đổi quy định tuyển sinh. Xin ông cho biết những căn cứ quan trọng và mục tiêu mà Bộ hướng tới trong đợt điều chỉnh này là gì?
Thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo cùng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, đợt điều chỉnh này hướng tới việc đổi mới tuyển sinh đại học theo hướng đánh giá đúng năng lực người học, kiểm soát chặt chất lượng đầu vào và đầu ra.
Các điều chỉnh trong dự thảo không nhằm thu hẹp cơ hội của thí sinh hay giảm quyền tự chủ của các cơ sở đào tạo. Mục tiêu lớn nhất là đơn giản hóa và nâng cao chất lượng tuyển sinh thông qua đồng bộ hóa các phương thức. Bộ muốn đưa các thí sinh dự tuyển vào cùng một ngành, cùng một chương trình về chung một chuẩn đánh giá; từ đó giảm thủ tục, giảm chi phí, tăng khả năng kiểm chứng và bảo đảm tính công bằng tuyệt đối cho các em.
Điểm gây chú ý trong dự thảo là việc siết lại số lượng phương thức xét tuyển. Lộ trình này sẽ được thực hiện cụ thể ra sao, thưa ông?
Thực tế giai đoạn 2022–2026 cho thấy, dù đợt điều chỉnh trước đã có chuyển biến tích cực, nhưng sự tương đương giữa các phương thức xét tuyển vẫn chưa đồng đều. Thống kê chỉ ra có trên 40% số chương trình đào tạo sử dụng từ hai phương thức trở lên vẫn có biên độ chênh lệch từ 3 điểm trở lên. Thậm chí có trên 2.000 chương trình đào tạo ghi nhận mức chênh lệch lớn này, làm phát sinh nguy cơ thí sinh có cùng năng lực nhưng lại bị đối xử khác nhau tùy thuộc vào "cửa" xét tuyển các em chọn.
Vì vậy, dự thảo đề xuất lộ trình cụ thể: Từ năm 2027, áp dụng tối đa 3 phương thức đăng ký xét tuyển vào từng ngành/chương trình đào tạo; Từ năm 2028, giảm xuống chỉ áp dụng 1 phương thức đăng ký xét tuyển vào từng ngành/chương trình đào tạo. (Lưu ý: Xét tuyển thẳng và cử tuyển không tính vào giới hạn này).
Đối với cấp cơ sở đào tạo (toàn trường), dự thảo vẫn cho phép sử dụng tối đa 5 phương thức. Đây là lộ trình để mỗi ngành, chương trình lựa chọn cách đánh giá phù hợp nhất, hoàn toàn không phải chủ trương bắt buộc tất cả các trường, các ngành trên toàn quốc phải sử dụng chung một kết quả duy nhất.
Nhiều thí sinh lo lắng việc giảm phương thức xét tuyển sẽ làm giảm đi cơ hội vào đại học. Ông có thể chia sẻ gì về điều này?
Giảm phương thức là để mở rộng cơ hội bình đẳng, không phải thu hẹp cơ hội tiếp cận của học sinh. Mỗi phương thức khi công bố phải bảo đảm mọi thí sinh đủ điều kiện đều có thể tham gia, sử dụng một thang điểm chung minh bạch. Các kết quả thi riêng, học bạ hay chứng chỉ ngoại ngữ vẫn được các trường tiếp tục sử dụng nếu được cấu trúc minh bạch trong phương thức đã công bố. Tinh thần xuyên suốt là: Tuyển sinh phải đi cùng chuẩn chất lượng, dữ liệu kiểm chứng được và có trách nhiệm giải trình. Thí sinh sẽ giảm gánh nặng phải theo dõi quá nhiều ma trận xét tuyển phức tạp như trước.
Một điểm mới khác nhận được nhiều sự quan tâm là đề xuất không sử dụng điểm cộng do các trường tự quy định. Lý do vì sao Bộ GD&ĐT lại đưa ra đề xuất này, thưa ông?
Trước hết, cần làm rõ, dự thảo không bãi bỏ điểm ưu tiên theo khu vực, đối tượng chính sách theo quy định chung của Nhà nước và không làm ảnh hưởng đến việc xét tuyển thẳng. Dự thảo chỉ đề xuất không sử dụng điểm cộng do cơ sở đào tạo tự quy định cho các thành tích, chứng chỉ hoặc tiêu chí bổ sung.
Thực tế thời gian qua cho thấy, việc các trường tự quy định điểm cộng đã phát sinh 4 điểm bất bình đẳng lớn: Cơ hội tiếp cận không đồng đều: Việc luyện thi, lấy chứng chỉ hay tham gia các hoạt động để lấy điểm cộng phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện kinh tế, địa bàn sinh sống của thí sinh; Thiếu chuẩn hóa quy đổi: Cùng một chứng chỉ nhưng mỗi trường lại quy đổi và cộng điểm theo một mức khác nhau; Một năng lực của thí sinh vừa được ghi nhận làm thành phần điểm xét tuyển, vừa được cộng thêm điểm ngoài thang đo, làm sai lệch thứ tự xếp hạng.
Bên cạnh đó, tại các ngành điểm chuẩn sát trần, chỉ cần 0,25 hay 0,5 điểm cộng riêng cũng đủ làm thay đổi kết quả trúng tuyển, dù chưa có căn cứ khoa học nào chứng minh phần điểm cộng đó phản ánh năng lực học tập tốt hơn.
Vậy đối với các thí sinh sở hữu chứng chỉ ngoại ngữ quốc tế hay chứng chỉ năng lực, quyền lợi của các em sẽ được giải quyết như thế nào nếu không còn điểm cộng, thưa ông?
Quan điểm của chúng tôi là đánh giá đúng năng lực và đặt đúng chỗ. Thí sinh có chứng chỉ ngoại ngữ vẫn có thể được quy đổi thành điểm môn ngoại ngữ trong tổ hợp xét tuyển theo quy tắc công khai, hoặc dùng làm điều kiện chứng minh năng lực đầu vào đối với các chương trình giảng dạy bằng tiếng Anh.
Như vậy, chứng chỉ được sử dụng đúng với bản chất là minh chứng năng lực trực tiếp. Nguyên tắc đặt ra rất rõ ràng: Một năng lực được ghi nhận một lần, theo cùng quy tắc đối với mọi thí sinh.
Đối với bậc đào tạo sau đại học (Thạc sĩ, Tiến sĩ), dự thảo có những điểm thay đổi cốt lõi nào nhằm nâng cao chất lượng, thưa ông?
Đối với đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ, dự thảo chuyển trọng tâm từ việc áp dụng một trần kỹ thuật cứng sang nguyên tắc xác định chỉ tiêu theo năng lực đào tạo thực tế của cơ sở. Năng lực này phải minh chứng qua đội ngũ giảng viên, người hướng dẫn, cơ sở vật chất, chất lượng nghiên cứu và kết quả đào tạo thực tế.
Đặc biệt, đối với các cơ sở giáo dục đại học trọng điểm hoặc các trường thực hiện đề án do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, dự thảo mở đường cho phép chủ động xây dựng lộ trình đến năm 2030 để quy mô đào tạo sau đại học đạt tối thiểu 20% tổng số người học. Điều này nhằm phát huy vai trò của các trung tâm nghiên cứu lớn, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho các lĩnh vực khoa học công nghệ, chuyển đổi số quốc gia, nhưng luôn gắn quyền tự chủ mở rộng quy mô với trách nhiệm bảo đảm chuẩn chất lượng.
Xin ông chia sẻ thêm về kế hoạch hoàn thiện dự thảo trước khi chính thức ban hành?
Dự thảo đưa ra danh mục mã thống nhất để cùng một bản chất xét tuyển được gọi và báo cáo chuẩn hóa dữ liệu. Các kỳ thi riêng được dành các mã khai báo từ 402 đến 489, tương tự với mã sử dụng phương thức kết hợp khai báo mã từ 500 đến 599, các phương thức khác cũng vậy. Dự thảo không liệt kê tên từng kỳ thi riêng của từng cơ sở đào tạo. Việc chuẩn hóa mã nhằm công khai cấu phần, kiểm tra dữ liệu và giúp thí sinh dễ hiểu, dễ so sánh và đây là cách chuẩn hóa trong hệ thống quản trị dữ liệu.
Hiện tại, dự thảo đang trong quá trình công khai lấy ý kiến rộng rãi. Bộ GD&ĐT sẽ tiếp tục đánh giá tác động đa chiều, nghiêm túc lắng nghe, tiếp thu ý kiến từ các thí sinh, phụ huynh, các cơ sở giáo dục đại học và các chuyên gia để hoàn thiện văn bản tối ưu nhất trước khi ban hành chính thức.
Trân trọng cảm ơn ông!