“Di sản không chỉ là phông nền”
Đạo diễn, NSƯT Đặng Thái Huyền cho rằng, để câu chuyện di sản trở thành một câu chuyện hấp dẫn trên màn ảnh, có nhiều yếu tố cần được tính đến, trong đó di sản chỉ là một thành tố. Quan trọng nhất là cách ứng xử của ê-kíp làm phim, đặc biệt là những nhà làm phim khi khai thác chính những giá trị di sản.
Theo nữ đạo diễn, không nên coi di sản đơn thuần như một phông nền đẹp để làm nổi bật hình ảnh bộ phim. Di sản cần được lồng ghép vào câu chuyện, gắn với số phận và cảm xúc của nhân vật.
Khán giả sau khi xem xong một bộ phim có thể nhớ tới một gương mặt, một nhân vật; có thể đau, buồn, khóc và thương nhân vật đó. Từ tình cảm dành cho nhân vật, họ vô hình chung cũng hình thành tình cảm với những bối cảnh gắn với câu chuyện, trong đó có những không gian di sản.
Nữ đạo diễn dẫn chứng từ bộ phim “Mưa đỏ”, cho biết bộ phim trải qua khoảng 81 ngày quay. Sau khi phim ra mắt, cảm xúc của khán giả không dừng lại ở câu chuyện trên màn ảnh mà còn tạo ra nhu cầu được trở lại Quảng Trị, tận mắt nhìn và trải nghiệm Thành cổ Quảng Trị.
Theo NSƯT Đặng Thái Huyền, đó chính là sự hòa quyện giữa không gian di sản và số phận nhân vật. “Đừng tách không gian đó ra khỏi số phận nhân vật. Khi hai yếu tố được hòa quyện, di sản sẽ trở thành một phần của câu chuyện và tạo nên những cảm xúc sâu sắc hơn đối với khán giả”, nữ đạo diễn nhấn mạnh.
Sau khi hợp nhất ba tỉnh, tỉnh Ninh Bình có một không gian phát triển rộng lớn, với nhiều tiềm năng về di sản, văn hóa và lịch sử. Những huyền tích, truyền thuyết, di sản văn hóa vật thể, phi vật thể, làng nghề, lễ hội… đều có thể trở thành chất liệu để xây dựng các tác phẩm điện ảnh. Bên cạnh đó, cảnh quan tự nhiên đặc sắc của Ninh Bình cũng là lợi thế để xây dựng bối cảnh, phim trường.
TS Nguyễn Mạnh Cường, Phó Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao tỉnh Ninh Bình nhận định: “Trong điều kiện hiện nay, khi chúng ta chưa có nhiều phim trường nhân tạo thì cảnh quan tự nhiên cũng là một lợi thế của Ninh Bình”.
Không dừng ở việc quảng bá hình ảnh địa phương, Ninh Bình đang hướng tới việc chuyển hóa các giá trị di sản, văn hóa, lịch sử thành nguồn lực phục vụ phát triển kinh tế, trong đó có kinh tế di sản, tổ chức sự kiện và phát triển công nghiệp văn hóa.
TS Nguyễn Mạnh Cường cho biết, tỉnh Ninh Bình đã và đang tham mưu, triển khai các chủ trương, chính sách về phát triển văn hóa, con người Ninh Bình, phát triển công nghiệp văn hóa và du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Trong đó, một mục tiêu được đặt ra là mỗi năm có thể ra mắt một bộ phim.
Từ thực tiễn đồng hành với đoàn làm phim “Hộ Linh Tráng sĩ”, ông Cường cho rằng, địa phương cần tham gia ngay từ đầu, thay vì chỉ hỗ trợ khi đoàn phim đã bắt đầu triển khai. Trong bối cảnh không sử dụng ngân sách nhà nước để trực tiếp đầu tư cho sản xuất phim, địa phương có thể phối hợp với hiệp hội, doanh nghiệp và các đơn vị liên quan để tạo điều kiện về địa điểm, bối cảnh, nhân lực và hệ sinh thái dịch vụ.
Với “Hộ Linh Tráng sĩ”, các doanh nghiệp tại khu vực Tràng An, doanh nghiệp Xuân Trường, đã hỗ trợ nhân lực, huy động người dân địa phương tham gia diễn xuất quần chúng, đồng thời hỗ trợ hệ thống nhà hàng, khách sạn và các dịch vụ liên quan. Tỉnh Ninh Bình cũng sẵn sàng giới thiệu địa điểm, khu vực và bối cảnh phù hợp; cử cán bộ phối hợp, hướng dẫn đoàn phim và kết nối với các địa phương, đơn vị có khả năng hỗ trợ quá trình sản xuất.
“Qua thực tiễn hỗ trợ các đoàn làm phim, chúng tôi nhận thấy, nếu có sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền, doanh nghiệp và nhà sản xuất thì những giá trị sẵn có của địa phương hoàn toàn có thể trở thành nguồn lực cho điện ảnh”, TS Nguyễn Mạnh Cường chia sẻ.
Điện ảnh không chỉ bảo tồn mà còn có thể tạo ra di sản
Theo TS Trần Hoài, Trưởng Bộ môn Di sản học, Khoa Công nghiệp Văn hóa và Di sản (Trường Khoa học Liên ngành và Nghệ thuật, Đại học Quốc gia Hà Nội), Việt Nam sở hữu nguồn di sản vô cùng phong phú. Bên cạnh những di sản đã được ghi danh, các địa phương còn có hàng nghìn di tích và nhiều thực hành văn hóa đang hiện diện trong đời sống cộng đồng. Đó có thể là những không gian sinh hoạt thường nhật, đời sống trên vỉa hè Hà Nội hay những thực hành văn hóa ở các làng quê. Đây là nguồn chất liệu phong phú nhưng vẫn còn nhiều dư địa để điện ảnh khai thác.
TS Trần Hoài cho rằng, khi các bên có sự phối hợp, những giá trị này hoàn toàn có thể được nghiên cứu, tìm hiểu và chuyển tải hiệu quả vào nhiều loại hình sản phẩm điện ảnh, từ phim ngắn đến những tác phẩm có khả năng giới thiệu hình ảnh Việt Nam ra thế giới.
Tuy nhiên, theo ông, việc đưa di sản vào điện ảnh trước hết đòi hỏi nhà làm phim phải nghiên cứu kỹ đối tượng di sản được khai thác. Nếu di sản là một bối cảnh lịch sử như Thành nhà Hồ, Hoàng thành Thăng Long hay Cố đô Hoa Lư, cần tìm hiểu đầy đủ về lịch sử, giá trị và đặc điểm của không gian đó. Nếu bộ phim khai thác một thực hành văn hóa như hát Ví, Giặm, một lễ hội hay một loại hình diễn xướng dân gian, việc nghiên cứu cũng cần được thực hiện kỹ lưỡng cả về hình ảnh và thực hành.
Cùng với yêu cầu về nội dung, nhà làm phim phải đặc biệt lưu ý tới việc bảo vệ di sản trong quá trình sản xuất. Việc quay phim tại các di tích, di sản cần được tính toán để vừa phục vụ yêu cầu nghệ thuật, vừa không gây tác động tiêu cực đến không gian và giá trị vốn có.
Một yếu tố khác được TS Trần Hoài nhấn mạnh là vai trò của cộng đồng. Những người đang trực tiếp gìn giữ và thực hành di sản có thể cung cấp thông tin, tham gia vào quá trình làm phim và cần được hưởng lợi từ hoạt động khai thác di sản.
“Như thế thì điện ảnh mới thực sự góp phần vào sự tiếp nối các thực hành và giá trị di sản mà cộng đồng đã liên tục gìn giữ qua nhiều thế hệ”, ông Trần Hoài nói.
Với trường hợp “Hộ Linh Tráng sĩ”, TS Trần Hoài đánh giá cao sự đầu tư của ê-kíp trong nghiên cứu trang phục và cổ phục. Ê-kíp đã chủ động tìm tòi, nghiên cứu, phục hồi một số trang phục cổ, đồng thời tham khảo ý kiến của các nhà nghiên cứu. Quá trình này cho thấy việc làm phim có thể tạo ra sự quan tâm rộng hơn đối với văn hóa truyền thống, trong đó có cộng đồng Việt phục.
Bên cạnh đó, theo TS Trần Hoài, bối cảnh đẹp và cách khai thác các giá trị văn hóa trong phim cũng có thể góp phần đưa hình ảnh Ninh Bình đến gần hơn với công chúng. Dẫu vậy, bài toán khó vẫn nằm ở cách kể chuyện. Di sản dù phong phú đến đâu cũng cần được đặt trong một câu chuyện đủ sức hấp dẫn để khán giả muốn theo dõi, tìm hiểu và đồng hành với hành trình khám phá lịch sử, văn hóa Việt Nam.
Ở một góc nhìn khác, NSƯT, đạo diễn Phi Tiến Sơn cho rằng, mối quan hệ giữa điện ảnh và di sản không chỉ dừng ở việc điện ảnh góp phần bảo tồn, quảng bá di sản. “Trên thực tế, trong quá trình làm phim, nhiều khi không chỉ là vấn đề bảo tồn di sản mà nhiều bộ phim đã tạo ra di sản”, đạo diễn Phi Tiến Sơn chia sẻ.
Ông dẫn chứng bộ phim về “The Odyssey” để cho thấy những góc quay, không gian và cách điện ảnh tái hiện một vùng đất có thể góp phần tạo nên những ký ức, hình dung mới của công chúng về không gian đó. Qua điện ảnh, cảnh quan, thiên nhiên và không khí của một vùng đất có thể được ghi dấu theo một cách mới trong nhận thức của khán giả.
Theo NSƯT Phi Tiến Sơn, đây chính là một hướng tiếp cận đáng chú ý: Điện ảnh không chỉ khai thác di sản mà còn có khả năng góp phần kiến tạo những giá trị có thể trở thành di sản trong tương lai. Tuy nhiên, quá trình này đặt ra những yêu cầu không nhỏ đối với nhà làm phim, đặc biệt trong việc tìm hiểu lịch sử, am hiểu lịch sử, đồng cảm với lịch sử và có sự kính trọng đối với tiền nhân. Đồng thời, câu chuyện cũng đặt ra yêu cầu đối với Nhà nước, chính quyền các cấp và địa phương trong việc sẵn sàng hỗ trợ hoạt động làm phim, bảo vệ không gian, tôn tạo và giữ gìn bản sắc của di sản.
Để di sản thực sự trở thành nguồn chất liệu cho điện ảnh, các chuyên gia và các nhà quản lý cho rằng, cần một mối quan hệ hai chiều. Nhà làm phim cần đến di sản để tìm kiếm những câu chuyện, không gian và giá trị văn hóa; trong khi di sản cũng cần điện ảnh để được kể lại bằng ngôn ngữ mới, tiếp cận những công chúng mới. Khi sự sáng tạo đi cùng nghiên cứu, trách nhiệm bảo tồn và sự đồng hành của cộng đồng, điện ảnh có thể trở thành một phương thức quan trọng để di sản tiếp tục sống trong đời sống đương đại.