Việc thành phố gia nhập Mạng lưới các thành phố sáng tạo của UNESCO trong lĩnh vực điện ảnh đặt ra yêu cầu không chỉ bảo tồn, quảng bá những giá trị sẵn có mà còn tạo cơ chế để di sản, văn hóa bản địa được chuyển hóa thành chất liệu sáng tạo, sản phẩm điện ảnh, điểm đến và những chuỗi giá trị mới.
Từ di sản đến chất liệu sáng tạo
Một bộ phim điện ảnh về lịch sử chỉ kéo dài hơn một giờ đồng hồ nhưng để tạo nên thế giới trên màn ảnh, người làm phim phải đi qua một hành trình dài tìm kiếm và tái hiện quá khứ. Từ trang phục cho đến chiếc đèn lồng, con lân, món ăn hay không gian lễ hội chỉ xuất hiện trong vài giây cũng đòi hỏi cả một quá trình nghiên cứu về hình dáng, chất liệu, màu sắc, cách sử dụng và bối cảnh văn hóa.
Trường hợp phim "Hộ linh tráng sĩ" cho thấy rõ quá trình chuyển hóa tài nguyên lịch sử, văn hóa thành ngôn ngữ điện ảnh. Đại diện nhà sản xuất, bà Ngô Thị Bích Hạnh, Tổng Giám đốc Công ty BHD cho biết, để tái hiện đời sống thế kỷ X, ê-kíp phải nghiên cứu nhiều lớp tư liệu, từ trang phục, phụ trang, kiến trúc đến lễ hội, phong tục, nghi lễ, sinh hoạt dân gian. Quá trình tạo hình trang phục cũng trải qua nhiều khâu với sự tham gia của nhà sử học, họa sĩ thiết kế, nhà thiết kế thời trang và nghệ nhân.
Theo bà Ngô Thị Bích Hạnh, làm di sản, làm văn hóa không thể ngắn hạn, bởi phía sau những chi tiết xuất hiện rất nhanh trên màn ảnh là cả quá trình tìm kiếm, khám phá và tái hiện. Mục tiêu của người làm phim không chỉ tạo nên bối cảnh cho câu chuyện mà còn giúp công chúng cảm nhận rõ hơn văn hóa của cha ông.
Đây cũng là thách thức của điện ảnh lịch sử khi tư liệu về đời sống thường nhật trong nhiều giai đoạn còn thiếu. Tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu, Tổng Thư ký Hội Khoa học Lịch sử TP Hồ Chí Minh cho biết, tư liệu khảo cổ có thể cung cấp thông tin về vũ khí, kiến trúc, gạch ngói hay các tầng văn hóa nhưng hình ảnh về trang phục và sinh hoạt hàng ngày lại hạn chế. Khoảng trống tư liệu đặt người làm nghệ thuật trước yêu cầu vừa tôn trọng lịch sử vừa phải tìm cách sáng tạo để tác phẩm có sức sống.
Nhà thiết kế Sĩ Hoàng đúc kết yêu cầu này bằng hai yếu tố "đúng và đẹp". Theo ông, sáng tạo không đồng nghĩa với tùy tiện. Chất liệu, màu sắc, hoa văn, phong thái, thậm chí dáng đi, cách chào hay ánh mắt của nhân vật đều cần được đặt trong bối cảnh thời đại. Nếu một chi tiết sai được điện ảnh phổ biến rộng rãi, công chúng có thể tiếp nhận cái sai "như một hình dung đúng" về quá khứ. Theo nhà thiết kế Sĩ Hoàng, nguyên tắc quan trọng là không làm mới di sản bằng cách thay đổi bản chất mà làm mới bằng cách kể câu chuyện về di sản. Lịch sử cung cấp chiều sâu, còn sáng tạo nghệ thuật tạo sức sống để di sản bước vào đời sống đương đại.
Từ trải nghiệm đảm nhận vai Hoàng hậu Dương Vân Nga trong "Hộ linh tráng sĩ", diễn viên Đỗ Thị Hải Yến cho rằng, trang phục và bối cảnh không chỉ có giá trị tạo hình mà còn giúp diễn viên cảm nhận nhân vật và thời đại. Theo nữ diễn viên, điện ảnh không phải là nơi dạy lịch sử nhưng một bộ phim có thể khiến khán giả yêu thêm lịch sử, cảm thấy quá khứ không còn quá xa xôi, khô khan và muốn tìm hiểu.
Khơi thông nguồn lực cho điện ảnh
Nếu di sản là nguồn nguyên liệu thì để hình thành công nghiệp điện ảnh còn cần một hệ sinh thái đủ khả năng biến nguồn nguyên liệu đó thành sản phẩm và giá trị kinh tế - xã hội. Bà Nguyễn Thị Thanh Thúy, Phó Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao TP Hồ Chí Minh nhận định, Thành phố hiện là một "siêu đô thị", sở hữu bề dày văn hóa cùng hệ thống di sản vật thể, phi vật thể đa dạng. Đây là nguồn tài nguyên quý giá để bảo tồn, phát huy và chuyển hóa thành những sản phẩm sáng tạo.
Không gian văn hóa của TP Hồ Chí Minh đang được mở rộng, từ việc chuẩn bị khánh thành Công viên cảng Nhà Rồng - Khánh Hội đến định hướng hình thành hệ thống không gian văn hóa dọc hai bờ sông Sài Gòn. Với cách tiếp cận lấy con người làm trung tâm, những không gian này không chỉ phục vụ nhu cầu hưởng thụ văn hóa mà còn tạo điều kiện để các chủ thể sáng tạo tổ chức hoạt động văn hóa, nghệ thuật, trong đó có điện ảnh.
Tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu cho rằng, TP Hồ Chí Minh còn sở hữu nhiều bối cảnh đô thị, điều kiện tự nhiên, xã hội có thể trở thành những "phim trường tự nhiên". Nếu được khai thác phù hợp, đây vừa là nguồn lực cho sản xuất phim vừa là phương thức quảng bá hình ảnh địa phương. Bên cạnh đó, Thành phố cần có hệ thống phim trường được đầu tư bài bản để chuyển lợi thế bối cảnh thành năng lực sản xuất thực sự.
Thực tế, nguồn lực điện ảnh của Thành phố không chỉ thể hiện ở thị trường. Theo bà Ngô Thị Bích Hạnh, dù "Hộ Linh Tráng Sĩ" được quay tại Ninh Bình nhưng toàn bộ bộ phận điều hành sản xuất đặt tại TP Hồ Chí Minh và khoảng 80% nhân sự làm phim đến từ Thành phố. Đây là một minh chứng về nguồn nhân lực và năng lực tổ chức sản xuất hiện có.
Tuy nhiên, để những lợi thế này tạo thành sức hút đối với các dự án trong nước và quốc tế, một trong những điểm nghẽn cần tháo gỡ là thủ tục hành chính. Theo Phó Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao TP Hồ Chí Minh Nguyễn Thị Thanh Thúy, Thành phố định hướng xây dựng cơ chế một cửa, liên thông với các cơ quan, địa phương, tạo thuận lợi cho đoàn phim tiếp cận những bối cảnh cần thiết. Đặc biệt, ngành văn hóa đang xúc tiến để sớm hình thành một bộ phận xem như văn phòng điện ảnh hoặc trung tâm cung ứng dịch vụ sản xuất phim, hỗ trợ kết nối và khơi thông thủ tục cho hoạt động sản xuất.
Cùng với đó là thúc đẩy hợp tác công - tư. Thay vì chỉ quản lý bằng phương thức hành chính truyền thống, cách tiếp cận được đặt ra là "quản trị phát triển", trong đó Nhà nước, doanh nghiệp, cộng đồng sáng tạo và người dân cùng tham gia kiến tạo. Văn hóa cũng cần gắn với du lịch để tài nguyên được chuyển hóa thành sản phẩm, điểm đến và đóng góp vào tăng trưởng của Thành phố.
Mở thị trường từ công chúng đến quốc tế
Để công nghiệp điện ảnh phát triển bền vững, tài nguyên văn hóa không chỉ cần người sáng tạo mà còn cần công chúng đủ khả năng tiếp nhận và thị trường đủ rộng cho sản phẩm. Một trong những cam kết được TP Hồ Chí Minh xác định triển khai là đưa điện ảnh vào học đường. Theo bà Nguyễn Thị Thanh Thúy, trong năm học 2026-2027, ngành văn hóa dự kiến đưa các loại hình nghệ thuật vào hệ thống trường phổ thông, giúp học sinh trước hết biết "cảm" và "hiểu" tác phẩm. Với điện ảnh, học sinh từng bước tiếp cận ngôn ngữ điện ảnh, cách cảm nhận một tác phẩm và tìm hiểu quá trình hình thành một bộ phim.
Nhà thiết kế Sĩ Hoàng cho rằng đây là hướng đi cần thiết. Từ kinh nghiệm đưa sân khấu và bảo tàng đến học đường, ông nhận thấy khi có sự phối hợp từ cơ quan quản lý và nhà trường, các sản phẩm văn hóa có thêm điều kiện tiếp cận số lượng lớn học sinh. Điện ảnh đến học đường vì thế không đơn thuần là tìm thêm khán giả mà còn góp phần hình thành khả năng cảm thụ văn hóa, lịch sử cho thế hệ trẻ.
Ở một chiều khác, bà Phạm Thị Thanh Hường, Trưởng ban Văn hóa, Văn phòng UNESCO tại Việt Nam cho rằng, nguồn lực quốc tế dành cho công nghiệp điện ảnh không nên chỉ được hiểu là tiền vốn. Đó còn là kinh nghiệm sản xuất, công nghệ, nguồn nhân lực, thị trường và các ngành công nghiệp hỗ trợ.
Việc TP Hồ Chí Minh tham gia mạng lưới 26 thành phố điện ảnh trên thế giới tạo cơ hội để kết nối với những trung tâm điện ảnh khác. Thành phố có thể nghiên cứu các mô hình đồng sản xuất, tạo điều kiện để một số công đoạn của sản phẩm điện ảnh quốc tế được thực hiện tại Việt Nam, từ đó thu hút con người, công nghệ, kinh nghiệm và các nhóm sáng tạo cùng tham gia. Theo đại diện UNESCO, phát triển lý luận, nghiên cứu và phê bình điện ảnh cũng là một phần quan trọng của hệ sinh thái. Một thế hệ khán giả có kiến thức, cách nhìn đa dạng, cởi mở và sẵn sàng tiếp nhận những cách thể hiện mới sẽ tạo nền tảng lâu dài cho thị trường và thúc đẩy sự đa dạng sáng tạo.
Đó cũng là con đường để TP Hồ Chí Minh chuyển lợi thế văn hóa thành năng lực sáng tạo, đưa điện ảnh trở thành một cầu nối giữa bảo tồn và phát triển, giữa giá trị bản địa và thị trường, giữa câu chuyện Việt Nam với công chúng trong nước và quốc tế.