Nhưng quy mô nguồn lực chưa đồng nghĩa với hiệu quả tạo ra. Trong không gian phát triển mới, vấn đề đặt ra với Thành phố không chỉ là đầu tư thêm cho văn hóa, mà quan trọng hơn là tổ chức lại, kết nối và phát huy hiệu quả những nguồn lực đang có.
Những nguồn lực chưa được kết nối
Nhìn từ quy mô, TP Hồ Chí Minh có nhiều lợi thế để phát triển văn hóa. Thành phố hiện có 321 di tích được xếp hạng, trong đó có 4 di tích quốc gia đặc biệt và 99 di tích quốc gia; hệ thống bảo tàng đón khoảng 4,5 triệu lượt khách mỗi năm. Riêng thị trường điện ảnh, các rạp chiếu phim tại thành phố chiếm hơn 40% thị phần cả nước.
Ở lĩnh vực công nghiệp văn hóa, Thành phố có khoảng 97.000 lao động và hơn 17.670 doanh nghiệp hoạt động trong các ngành liên quan. Năm 2025, công nghiệp văn hóa đóng góp khoảng 5,7% GRDP Thành phố. Mục tiêu của Thành phố đến năm 2030 nâng lên 7 - 7,2%.
Những con số này cho thấy văn hóa tại TP Hồ Chí Minh đã hình thành một thị trường và những cấu phần ban đầu của một hệ sinh thái, chứ không còn chỉ là khu vực sử dụng ngân sách. Tuy nhiên, quy mô nguồn lực chưa đồng nghĩa với khả năng tạo ra giá trị. Các nguồn lực vẫn còn phân tán, sự phát triển giữa các lĩnh vực và địa bàn chưa đồng đều, trong khi năng lực tổ chức và kết nối chưa theo kịp không gian đô thị mới.
Ngay ở cấp cơ sở, tính đến ngày 4/5/2026, còn 23/168 đơn vị chưa có trụ sở hoạt động ổn định; nhiều cơ sở thiếu trang thiết bị, mỗi trung tâm chỉ có khoảng 2-4 nhân sự trực tiếp phụ trách văn hóa, thể thao. Không ít hoạt động vì vậy còn mang tính thời vụ, chưa hình thành được những chương trình có chiều sâu. Cơ chế tài chính cũng là một trở ngại khi nhiều đơn vị còn phụ thuộc vào ngân sách thường xuyên, chưa có điều kiện tạo nguồn thu để tái đầu tư.
Theo bà Hồng Kim Ngọc, Trưởng phòng Văn hóa - Văn nghệ, Ban Tuyên giáo Thành ủy TP Hồ Chí Minh, sau khi mở rộng không gian phát triển, Thành phố đứng trước yêu cầu giải quyết đồng thời nhiều vấn đề như đầu tư thiết chế chưa tương xứng với quy mô đô thị; khoảng cách thụ hưởng văn hóa giữa khu vực trung tâm, vùng ven và các khu công nghiệp; tác động của không gian số đến thị hiếu; cơ chế phát triển công nghiệp văn hóa chưa tạo được đột phá; doanh nghiệp và lực lượng sáng tạo còn khó tiếp cận vốn, đất đai, bảo hộ sở hữu trí tuệ. Cùng với đó là yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ văn hóa, nhất là ở cơ sở, khi công tác quản lý ngày càng đòi hỏi sự am hiểu về văn hóa truyền thống, công nghệ và tư duy kinh tế thị trường.
Bà Phạm Phương Thảo, nguyên Phó Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh, cho rằng Thành phố cần có những công trình văn hóa tiêu biểu tương xứng với vị thế và quy mô đô thị, từ sân khấu, biểu diễn, điện ảnh, bảo tàng, thư viện đến không gian dành cho trẻ em. Tuy nhiên, đầu tư cho những công trình lớn không thể tách rời việc hình thành đời sống văn hóa rộng khắp từ cơ sở, trường học, doanh nghiệp đến cộng đồng dân cư. Cùng với đó là đào tạo, phát triển nguồn nhân lực văn hóa và phát huy vai trò của các cơ sở đào tạo chuyên ngành trên địa bàn.
Câu chuyện giáo dục nghệ thuật cũng cho thấy khoảng cách giữa nguồn lực và cách sử dụng nguồn lực. TS Trịnh Đăng Khoa, Trường Đại học Văn hóa TP Hồ Chí Minh, nhận định giáo dục văn hóa, nghệ thuật trong nhà trường chưa được quan tâm tương xứng; nội dung, phương pháp còn chậm đổi mới, các hoạt động trải nghiệm, sáng tạo và kết nối với thiết chế văn hóa chưa thường xuyên. Trong khi đó, học sinh ngày càng tiếp nhận văn hóa qua môi trường số.
Theo TS Trịnh Đăng Khoa, điểm nghẽn không nằm ở việc thiếu điều kiện, mà ở sự chuyển đổi chưa tương xứng về nhận thức và phương thức tổ chức. Giáo dục nghệ thuật cần được nhìn nhận rộng hơn, không chỉ như một môn học mà còn là phương thức góp phần hình thành con người toàn diện, đồng thời mở rộng kết nối giữa nhà trường với các thiết chế và nguồn lực văn hóa bên ngoài.
Những vấn đề trên cho thấy bài toán của Thành phố không chỉ là bổ sung thêm một thiết chế, một công trình hay một khoản đầu tư. Ở nhiều nơi, vấn đề nằm ở khả năng kết nối các nguồn lực, tổ chức hoạt động và tạo ra cơ chế để những nguồn lực ấy tiếp tục vận động, tạo giá trị và tái đầu tư.
Tổ chức lại để tạo giá trị mới
Đây cũng là điểm cần thay đổi trong cách tiếp cận chính sách văn hóa. Theo ông Trần Thanh Vương, Trưởng phòng Xây dựng nếp sống văn hóa và gia đình (Sở Văn hóa và Thể thao TP Hồ Chí Minh), tinh thần Nghị quyết 80-NQ/TW đặt ra yêu cầu chuyển từ cách nghĩ “chi cho văn hóa” sang “đầu tư cho văn hóa”, đồng thời kết nối những nguồn lực đang nằm riêng lẻ thành một hệ sinh thái có khả năng tạo ra giá trị và tái đầu tư.
Theo hướng này, nguồn lực văn hóa không chỉ là ngân sách, mà còn bao gồm di sản, đất đai, tài sản công, không gian đô thị, doanh nghiệp, đội ngũ sáng tạo, dữ liệu và thị trường. Việc khai thác các nguồn lực cần gắn với những mô hình cụ thể, trong đó có thể nghiên cứu hợp tác công - tư, huy động doanh nghiệp tham gia đầu tư, vận hành những công trình phù hợp và tạo cơ chế để các hoạt động văn hóa có khả năng tự vận động tốt hơn.
Luật Phát triển đô thị cũng mở thêm không gian chính sách để Thành phố nghiên cứu việc huy động nguồn lực xã hội, khai thác tài sản công và hình thành các trung tâm, cụm, khu vực phát triển công nghiệp văn hóa, sáng tạo. Tuy nhiên, cơ chế mới chỉ thực sự có ý nghĩa khi được cụ thể hóa thành dự án, mô hình và phương thức vận hành có khả năng đi vào thực tế.
NSND Nguyễn Thị Thanh Thúy, Phó Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao TP Hồ Chí Minh, cho rằng trước khi phân bổ nguồn lực, Thành phố cần có dữ liệu sát hơn về nhu cầu thực tế. Không chỉ thống kê có bao nhiêu thiết chế, mà cần biết người dân sử dụng những thiết chế đó như thế nào, nhóm đối tượng nào có nhu cầu, mức độ tiếp cận ra sao. Các dữ liệu về dân số, độ tuổi, nghề nghiệp, thời gian làm việc, khả năng di chuyển và tần suất sử dụng sẽ giúp Thành phố có cơ sở phân bổ ngân sách, quỹ đất, nhân lực phù hợp, tránh tình trạng đầu tư xây dựng nhưng hiệu quả vận hành chưa tương xứng.
Cách tổ chức không gian cũng cần được tính lại. TS Nguyễn Thị Mai, Học viện Cán bộ TP Hồ Chí Minh, cho rằng mô hình đô thị đa trung tâm không nên được hiểu là mỗi khu vực tự phát triển một cách riêng biệt. Các địa bàn cần phát huy thế mạnh của mình nhưng đồng thời kết nối thành mạng lưới để chia sẻ thiết chế, nhân lực sáng tạo và sản phẩm văn hóa. Khi đó, sự khác biệt về đặc trưng văn hóa giữa các khu vực có thể trở thành lợi thế bổ trợ, thay vì tạo thêm khoảng cách tiếp cận.
Ở cấp cộng đồng, TS Nguyễn Văn Nhứt, nguyên Trưởng khoa Quản lý hành chính, Học viện Cán bộ TP Hồ Chí Minh, đề nghị nhìn đời sống văn hóa từ mức độ tham gia thực tế của người dân thay vì chỉ dựa vào danh hiệu hay các phong trào. Chất lượng môi trường sống, mức độ hài lòng và khả năng tự tổ chức của cộng đồng cần được xem là những chỉ dấu quan trọng hơn trong đánh giá hiệu quả phát triển văn hóa ở cơ sở.
Theo PGS.TS Trương Thị Hiền, Chủ tịch Hội Nữ trí thức TP Hồ Chí Minh, với cơ chế phù hợp và đầu tư đúng hướng, Thành phố có điều kiện phát triển mạnh công nghiệp văn hóa, kinh tế sáng tạo và hướng tới vai trò một trung tâm sáng tạo văn hóa của khu vực Đông Nam Á. Cùng với phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, việc nâng cao “sức đề kháng” văn hóa cho thế hệ trẻ trước những tác động phức tạp của môi trường số cũng cần được đặt trong chiến lược phát triển dài hạn.
TS Phạm Ngọc Lợi, Phó Giám đốc Học viện Cán bộ TP Hồ Chí Minh, cho rằng yêu cầu quan trọng hơn là thay đổi vị trí của văn hóa trong tiến trình phát triển. Văn hóa không chỉ là lĩnh vực cần được đầu tư hay quản lý, mà phải trở thành một phương thức tổ chức phát triển, được thể hiện qua khả năng tiếp cận của người dân, môi trường phát triển của trẻ em, cơ hội sáng tạo của người trẻ và chất lượng sống của đô thị.
Theo TS Phạm Ngọc Lợi, để điều đó trở thành thực tế cần hình thành một hệ sinh thái với sự tham gia của nhiều chủ thể: Nhà nước kiến tạo thể chế, doanh nghiệp tham gia đầu tư và đồng hành, giới khoa học cung cấp luận cứ, văn nghệ sĩ sáng tạo giá trị và cộng đồng tham gia gìn giữ, lan tỏa các giá trị văn hóa.
Trong cấu trúc đó, các không gian văn hóa đặc trưng của Thành phố, trong đó có Không gian văn hóa Hồ Chí Minh, cần được nhìn nhận như một bộ phận của đời sống đô thị chứ không chỉ là một hoạt động tuyên truyền hay phong trào.
Vì vậy, bài toán mới cho TP Hồ Chí Minh là không đơn thuần tìm thêm nguồn lực cho văn hóa, mà là tổ chức lại những gì đang có để tạo thành năng lực phát triển. Khi di sản, con người, không gian, doanh nghiệp, dữ liệu và thị trường được kết nối, nguồn lực văn hóa không chỉ được bảo tồn hay khai thác riêng lẻ, mà có thể tạo ra những giá trị mới cho kinh tế, cộng đồng và chất lượng sống đô thị.
Đây cũng là bước chuyển quan trọng từ tư duy “có gì đầu tư nấy” sang chủ động tổ chức hệ sinh thái, trong đó mỗi nguồn lực được đặt đúng vị trí và có khả năng bổ trợ cho những nguồn lực khác.