Cảng biển TP Hồ Chí Minh - Bài 2: Sức bật từ dữ liệu số

Cảng thông minh không được đo bằng số lượng công nghệ đã đầu tư mà bằng thời gian, chi phí doanh nghiệp tiết kiệm được. Muốn đạt mục tiêu này, TP Hồ Chí Minh cần kết nối dữ liệu từ nhà máy, kho bãi đến cảng biển và thị trường.

baotintuc_tr_cangtau.png
Chuyển đổi xanh đang trở thành yêu cầu quan trọng trong quá trình phát triển hệ thống cảng biển hiện đại.

Công nghệ phải bắt đầu từ nhu cầu khách hàng

Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là những động lực quan trọng của phát triển. Đối với cảng biển, yêu cầu này không dừng ở việc đưa thêm phần mềm vào từng công đoạn mà hướng đến thay đổi cách quản lý, khai thác và kết nối toàn bộ chuỗi logistics.

Sau khi mở rộng không gian phát triển, TP Hồ Chí Minh có thêm lợi thế từ cụm cảng nước sâu Cái Mép - Thị Vải, mạng lưới cảng sông, các khu công nghiệp và trung tâm sản xuất. Tuy nhiên, các nguồn lực này chỉ tạo thành một hệ thống khi cảng biển, kho bãi, phương tiện vận tải, hãng tàu, doanh nghiệp và cơ quan quản lý có thể trao đổi thông tin kịp thời.

Bà Nguyễn Thị Thu Sương, Trưởng Phòng Phát triển khoa học và công nghệ, Sở Khoa học và Công nghệ TP Hồ Chí Minh cho biết, Nghị quyết số 57-NQ/TW tạo thêm động lực để Thành phố triển khai các cơ chế thí điểm về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Tháng 5/2026, TP Hồ Chí Minh lần đầu lọt vào nhóm 100 hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo năng động nhất thế giới, đứng thứ 98 theo xếp hạng của StartupBlink. Đây là nguồn lực để Thành phố huy động doanh nghiệp công nghệ cùng tham gia giải quyết các bài toán đô thị, trong đó có giao thông, cảng biển và logistics.

Với lĩnh vực cảng biển, bài toán đặt ra là xây dựng nền tảng liên thông dữ liệu, tự động hóa một số khâu khai thác và tạo điều kiện để doanh nghiệp thử nghiệm giải pháp mới. Thay vì cơ quan quản lý tự xác định công nghệ cần đầu tư, doanh nghiệp khai thác cảng, hãng tàu và đơn vị logistics cần cùng tham gia chỉ ra những công đoạn gây chậm, phát sinh chi phí hoặc thiếu thông tin.

baotintuc_tr_bavy.jpg
Bà Ngô Thị Thanh Vy, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Cảng Quốc tế QTM.

Bà Ngô Thị Thanh Vy, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Cảng Quốc tế QTM cho rằng, cạnh tranh trong tương lai không chỉ diễn ra giữa từng bến cảng mà giữa các hệ sinh thái logistics. Quy mô cầu bến, thiết bị và khả năng tiếp nhận tàu vẫn quan trọng, nhưng chưa đủ để quyết định sức cạnh tranh.

Khách hàng không chỉ quan tâm một tấn hàng được bốc xếp nhanh đến đâu. Điều họ cần biết là tổng thời gian hàng hóa đi từ nơi sản xuất đến thị trường, chi phí của toàn bộ hành trình, vị trí của lô hàng và mức độ ổn định, an toàn của chuỗi cung ứng.

Vì vậy, một cảng có năng suất xếp dỡ cao nhưng kết nối kho bãi, vận tải và thông tin chưa đồng bộ vẫn có thể làm hàng hóa chậm lại ở các công đoạn khác. Ngược lại, hệ sinh thái logistics được tổ chức tốt sẽ giúp cảng nâng sức cạnh tranh, ngay cả khi năng lực cầu bến không có nhiều khác biệt.

Theo bà Ngô Thị Thanh Vy, cảng thông minh không nên bắt đầu bằng câu hỏi sẽ đầu tư công nghệ nào mà phải xác định khách hàng đang gặp vấn đề gì. Công nghệ chỉ có giá trị khi giúp tàu giảm thời gian chờ, hỗ trợ doanh nghiệp theo dõi hàng hóa, tăng năng suất thiết bị hoặc rút ngắn một thủ tục.

Điển hình như Cảng Quốc tế QTM đang được đầu tư tại phường Phú Mỹ, trong khu vực Cái Mép - Thị Vải. Do xây dựng mới, doanh nghiệp có điều kiện chuẩn bị đồng thời hạ tầng, công nghệ, thị trường và mạng lưới đối tác ngay từ giai đoạn thiết kế, thay vì vận hành theo mô hình cũ rồi mới điều chỉnh.

Doanh nghiệp này cũng đề xuất TP Hồ Chí Minh khai thác mạng lưới quan hệ quốc tế để kết nối thành phố với thành phố, cảng với cảng, doanh nghiệp với doanh nghiệp và thị trường với thị trường. Mỗi chương trình hợp tác cần gắn với một kết quả cụ thể, như chuyển giao công nghệ, kết nối nền tảng dữ liệu, thử nghiệm giải pháp xanh hoặc mở tuyến logistics mới.

Từ dữ liệu dùng chung đến cảng xanh

Ông Lương Quang Thi, Phó Chủ tịch Hiệp hội Logistics và Cảng biển TP Hồ Chí Minh, phụ trách Ban Nghiên cứu Chính sách và Pháp chế cho rằng, Thành phố có thể tham khảo kinh nghiệm tổ chức dòng dữ liệu liền mạch của Singapore. Công nghệ không nên được đầu tư riêng tại từng cảng, kho bãi hoặc doanh nghiệp mà cần trở thành hạ tầng dùng chung của toàn chuỗi.

Khi thông tin về nguồn hàng, kho bãi, phương tiện và năng lực khai thác cảng được cập nhật đồng bộ, doanh nghiệp có thể chủ động lập kế hoạch vận chuyển. Cảng biết trước lượng hàng và thời điểm phương tiện đến; doanh nghiệp vận tải hạn chế thời gian chờ; chủ hàng theo dõi được tiến độ giao nhận và xử lý sớm những tình huống phát sinh.

baotintuc_tr_canggiau.jpg
Các đại biểu lắng nghe giới thiệu về hệ thống cảng biển tại TP Hồ Chí Minh.

Trên nền tảng đó, trí tuệ nhân tạo (AI) có thể dự báo lưu lượng hàng hóa, sắp xếp lịch phương tiện và hỗ trợ điều phối thiết bị. Internet vạn vật (IoT) giúp theo dõi vị trí, tình trạng container và máy móc; trong khi blockchain có thể tăng khả năng truy vết, xác thực dữ liệu giữa các bên.

Dữ liệu dùng chung cũng có ý nghĩa đối với phát triển chuỗi lạnh. TP Hồ Chí Minh nằm gần vùng sản xuất nông sản lớn của Đồng bằng sông Cửu Long nhưng hàng hóa phải đi qua nhiều công đoạn bảo quản, vận chuyển và kiểm tra trước khi xuất khẩu. Nếu cảng, kho lạnh, phương tiện và hệ thống truy xuất được kết nối, doanh nghiệp có thể kiểm soát tốt hơn nhiệt độ, thời gian giao nhận, hạn chế tổn thất và đáp ứng yêu cầu của thị trường nhập khẩu.

Tại hệ thống cảng của Gemadept, chuyển đổi số được triển khai song song với chuyển đổi xanh. Mô hình cảng thông minh và cổng cảng thông minh ứng dụng AI, kết hợp số hóa quy trình giao nhận, đã giúp giảm khoảng 30% thời gian xe container chờ tại cảng. (Gemadept)

Ông Cao Hồng Phong, Phó Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Cảng Cái Mép Gemadept - Terminal Link cho biết, doanh nghiệp đang nâng năng lực cầu bến, đồng bộ thiết bị và đầu tư hạ tầng công nghệ để đón cơ hội dịch chuyển nguồn hàng trung chuyển về Cái Mép - Thị Vải trong giai đoạn 2026 - 2030.

Bên cạnh số hóa hoạt động giao nhận, doanh nghiệp từng bước điện khí hóa thiết bị, sử dụng điện mặt trời và tăng vận tải đường thủy. Khi thời gian chờ của phương tiện được rút ngắn, lượng nhiên liệu tiêu thụ và phát thải cũng giảm theo. Đây là điểm giao nhau giữa cảng thông minh và cảng xanh.

baotintuc_tr_cangbienxanh.png
Cảng biển chuyển đổi xanh với xe điện, điện mặt trời và điện gió. Ảnh minh hoạ

Ở góc độ công nghệ hạ tầng, ông Phạm Anh Tuấn, Tổng Giám đốc Portcoast cho rằng, cảng biển số gồm hai thành phần chính là hạ tầng số và hệ thống quản lý khai thác số. Các công nghệ như IoT, mô hình thông tin công trình (BIM), ArcGIS và bản sao số có thể mô phỏng hoạt động cảng theo thời gian thực.

Mô hình bản sao số cho phép theo dõi luồng tàu, hoạt động bốc xếp, tình trạng thiết bị và các tình huống khẩn cấp trên môi trường mô phỏng. Thông tin này hỗ trợ doanh nghiệp lập kế hoạch, kiểm tra phương án vận hành trước khi áp dụng và giảm rủi ro trong quá trình khai thác. Portcoast đã triển khai mô hình bản sao số cho hệ thống cảng nước sâu Cái Mép - Thị Vải.

Theo ông Phạm Anh Tuấn, hệ thống quản lý khai thác của từng doanh nghiệp cần được kết nối với hệ thống cộng đồng cảng. Khi đó, dữ liệu giữa cảng, hãng tàu, doanh nghiệp logistics và cơ quan quản lý có thể được chia sẻ thuận lợi, giúp giảm thời gian xử lý, nâng tính minh bạch và tăng độ tin cậy của chuỗi cung ứng.

Chuyển đổi số vì vậy không thể dừng ở một cổng cảng tự động hoặc một phần mềm riêng lẻ. Sức bật chỉ xuất hiện khi dữ liệu đi cùng hàng hóa từ nơi sản xuất, kho bãi, phương tiện vận tải đến cảng biển và thị trường. Đây là cơ sở để TP Hồ Chí Minh điều phối dòng hàng tốt hơn, nâng hiệu quả khai thác và hình thành hệ thống cảng biển vừa thông minh, vừa đáp ứng yêu cầu chuyển đổi xanh.

Bài cuối: Giảm phí logistics nhờ dữ liệu số

Hoàng Tuyết/Báo Tin tức và Dân tộc

Dành cho bạn

Chuyển đổi số đi vào đời sống, mang lại tiện ích thiết thực

Chuyển đổi số đi vào đời sống, mang lại tiện ích thiết thực

Từ khu dân cư đến trung tâm phục vụ hành chính công cấp xã, chuyển đổi số đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, phục vụ và cách người dân tiếp cận các dịch vụ công. Ninh Bình đang đẩy mạnh chuyển đổi số từ cơ sở, lấy người dân làm trung tâm, tạo nền tảng xây dựng chính quyền số hiệu quả, gần dân.