Video ông Đặng Văn Huấn, Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo chia sẻ:
Bên lề Chuyên đề "Giáo dục đại học số và Quốc tế hóa", phóng viên báo Tin tức và Dân tộc đã có cuộc trao đổi riêng với ông Đặng Văn Huấn, Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) về hành lang pháp lý, các trụ cột chiến lược cũng như giải pháp nâng cao năng lực số cho đội ngũ giảng viên, nhà quản lý hiện nay.
Thưa ông, về khung chính sách phát triển đại học số và quản trị thông minh, đâu là các tiêu chí cốt lõi và lộ trình then chốt mà Bộ GD&ĐT định hướng cho các cơ sở giáo dục đại học?
Trong 2 năm vừa qua, hệ thống cơ sở pháp lý và chính sách của Việt Nam cho chuyển đổi số nói chung và chuyển đổi số trong giáo dục đại học nói riêng, đã tương đối đầy đủ. Từ các Nghị quyết của Bộ Chính trị (Nghị quyết 57, Nghị quyết 71), Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ, cho đến các Nghị định, Thông tư hướng dẫn của các Bộ, ngành đã tạo nên một hành lang pháp lý vững chắc.
Trong các định hướng đó, Bộ GD&ĐT nhấn mạnh 3 trụ cột trọng tâm để thúc đẩy đại học số và quản trị thông minh: Thứ nhất, xây dựng cơ sở dữ liệu "sống, sạch, đủ": Các trường đại học cần xây dựng hệ thống dữ liệu của riêng mình để kết nối đồng bộ với Cơ sở dữ liệu ngành về giáo dục đại học (HEMIS). Đây là nền tảng cốt lõi giúp các cơ quan quản lý hoạch định chính sách chính xác, đồng thời giúp nhà trường ra quyết định hiệu quả trong việc lựa chọn chương trình đào tạo, hỗ trợ người học và đổi mới quản trị tài chính, cơ sở vật chất.
Thứ hai, nâng cao năng lực số cho đội ngũ: Đội ngũ cán bộ quản lý và giảng viên cần được đào tạo, bồi dưỡng toàn diện về kỹ năng số, năng lực ứng dụng công nghệ và các nền tảng số vào công tác quản lý cũng như giảng dạy.
Thứ ba, cam kết kết nối và minh bạch dữ liệu: Cần sự quyết tâm, cam kết mạnh mẽ từ lãnh đạo các nhà trường trong việc kết nối dữ liệu nội bộ với cơ sở dữ liệu của Bộ và cơ sở dữ liệu quốc gia, đảm bảo tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong toàn hệ thống.
Từ các chia sẻ của chuyên gia quốc tế tại hội thảo, ông nhận thấy những bài học kinh nghiệm nào có thể vận dụng vào thực tiễn Việt Nam?
Phiên hội thảo đã mang đến nhiều kinh nghiệm thực tiễn rất hữu ích về chuyển đổi số và hợp tác quốc tế từ các quốc gia phát triển ở Châu Âu, Hoa Kỳ cũng như khu vực Châu Á. Có 3 điểm nổi bật mà Việt Nam có thể tham khảo:
Thúc đẩy tính hiệu quả của chính sách: Dù hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của chúng ta đã tương đối đầy đủ, nhưng khâu triển khai thực thi trong thực tiễn vẫn là bài toán lớn. Việc này đòi hỏi sự cam kết quyết liệt từ hiệu trưởng và ban lãnh đạo các trường trong việc kết nối dữ liệu xuyên suốt từ cấp cơ sở đến cấp Bộ và quốc gia.
Vai trò kiến tạo của Nhà nước: Nhà nước đóng vai trò then chốt trong việc xây dựng các nền tảng dùng chung, hệ thống dữ liệu dùng chung và kho tài nguyên giáo dục mở (OER) để các trường khai thác, sử dụng hiệu quả.
Mở rộng hợp tác song phương và đa phương: Tăng cường kết nối giữa các trường đại học Việt Nam với các đối tác quốc tế để chia sẻ tri thức, kinh nghiệm quản trị đại học thông minh và chuyển đổi số.
Khi chuyển từ chính sách sang thực thi, Bộ đã ban hành những văn bản hướng dẫn cụ thể nào để tháo gỡ vướng mắc cho các cơ sở giáo dục và đào tạo, thưa ông?
Bộ GD&ĐT đã chủ động ban hành nhiều văn bản quan trọng như Thông tư 49 về ứng dụng công nghệ số trong giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp; Thông tư 61 về khai thác, sử dụng tài nguyên giáo dục mở; cùng các thông tư quy định về quy chế đào tạo đại học, thạc sĩ, tiến sĩ, chuẩn chương trình đào tạo và tuyển sinh.
Trong quá trình triển khai, Bộ luôn duy trì các kênh lắng nghe, tiếp nhận ý kiến phản hồi từ các cơ sở đào tạo thông qua các hội nghị, hội thảo. Trên cơ sở đó, Bộ sẽ kịp thời điều chỉnh, bổ sung các quy định chính sách nhằm kiến tạo môi trường thuận lợi nhất cho các trường phát triển mô hình đại học số.
Năng lực số của đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý được coi là yếu tố quyết định. Bộ có chiến lược hay chương trình bồi dưỡng chung nào về vấn đề này không, thưa ông?
Bộ GD&ĐT đã xây dựng Khung năng lực số, trong đó bao gồm cả năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) dành cho giáo viên phổ thông và giảng viên đại học. Nội dung này cũng được đưa vào chương trình mục tiêu quốc gia về hiện đại hóa giáo dục và đào tạo với các hợp phần dự án cụ thể, đi kèm nguồn ngân sách đủ lớn trong thời gian tới. Bộ sẽ tập trung xây dựng bộ tiêu chuẩn, khung năng lực và đổi mới phương thức bồi dưỡng kỹ năng số một cách bài bản, hiệu quả nhất cho đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý.
Trân trọng cảm ơn ông!