Để hiện thực hóa tiềm năng này, hai nước cần lựa chọn những lĩnh vực có khả năng sớm tạo ra dự án cụ thể, xây dựng cơ chế đồng tài trợ và phát huy hiệu quả nguồn lực chuyên gia người Việt tại Canada.
Cuộc gặp diễn ra trong bối cảnh Việt Nam và Canada đang hướng tới nâng cấp quan hệ sau hơn nửa thế kỷ thiết lập quan hệ ngoại giao và gần 10 năm triển khai khuôn khổ Đối tác Toàn diện. Hai nước đã xây dựng được nền tảng hợp tác khá vững chắc về chính trị, kinh tế, giáo dục và giao lưu nhân dân.
Thủ tướng hai nước gần đây nhất trí thúc đẩy mục tiêu sớm nâng cấp quan hệ Việt Nam - Canada, đồng thời xác định một số lĩnh vực hợp tác mới như trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ lượng tử, bán dẫn, năng lượng, kinh tế xanh và hàng không vũ trụ.
Trao đổi với phóng viên TTXVN tại Ottawa, Phó Giáo sư (PGS) Vũ Việt Hưng - Chủ tịch Mạng lưới Chuyên gia và Nhà khoa học Việt Nam tại Canada - cho rằng năng lượng sạch là một trong những lĩnh vực Việt Nam có thể ưu tiên hợp tác ngay với Canada.
Năng lượng sạch là một trong những lĩnh vực Việt Nam có thể ưu tiên hợp tác ngay với Canada. Trong ảnh: Tổ hợp điện năng lượng tái tạo của Tập đoàn Trung Nam đầu tư tại huyện Thuận Bắc (tỉnh Ninh Thuận) nay thuộc tỉnh Khánh Hòa. Ảnh minh họa: Công Thử/TTXVN
Theo ông, Canada là cường quốc về năng lượng, có thế mạnh trong công nghệ sạch, hiệu quả năng lượng, công nghệ môi trường và các giải pháp giảm phát thải. Canada cũng đang đẩy mạnh đa dạng hóa thị trường, tìm kiếm các đối tác mới ngoài Mỹ và dành nguồn lực đáng kể để hỗ trợ hoạt động nghiên cứu, phát triển và thương mại hóa công nghệ.
Trong khi đó, Việt Nam có nhu cầu ngày càng lớn về chuyển đổi năng lượng, giảm chi phí sản xuất, thích ứng với biến đổi khí hậu và đáp ứng các tiêu chuẩn carbon tại những thị trường xuất khẩu chủ lực. Sự hội tụ giữa năng lực công nghệ của Canada và nhu cầu phát triển của Việt Nam sẽ tạo điều kiện để hai bên triển khai những dự án mang tính ứng dụng cao.
Từ góc độ thực tế, Trưởng Văn phòng Khoa học và Công nghệ Việt Nam tại Canada Lê Quốc Dũng nhấn mạnh cần có những dự án thí điểm cụ thể như “nhà máy xanh” hoặc “chế biến nông sản xanh” tại Việt Nam trong khoảng 12 - 18 tháng. Doanh nghiệp Việt Nam cung cấp địa điểm, xác định nhu cầu và trực tiếp sử dụng công nghệ; doanh nghiệp Canada đưa vào các giải pháp quản lý năng lượng, nước, chất thải hoặc đo lường phát thải; các trường đại học và tổ chức kỹ thuật của hai nước tham gia đánh giá hiệu quả.
Theo ông Lê Quốc Dũng, kết quả dự án cần được đo bằng những chỉ số cụ thể như mức giảm tiêu thụ điện, nước và phát thải; chi phí vận hành tiết kiệm được; khả năng nhân rộng mô hình; số lượng hợp đồng mua giải pháp, cấp phép công nghệ hoặc đơn hàng thương mại hình thành sau thử nghiệm. Cách tiếp cận này sẽ giúp hợp tác khoa học và công nghệ chuyển từ các hình thức hội thảo, trao đổi đoàn và ký kết biên bản ghi nhớ sang giai đoạn tạo ra sản phẩm và giá trị kinh tế thực tế.
Bên cạnh năng lượng sạch, PGS Vũ Việt Hưng nhận định hàng không vũ trụ là lĩnh vực có ý nghĩa chiến lược lâu dài. Việc Canada cam kết tăng cường đóng góp cho hòa bình, an ninh và ổn định tại khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương mở ra cơ hội để Việt Nam xúc tiến hợp tác về công nghệ dân sự và lưỡng dụng.
PGS Vũ Việt Hưng cho rằng hai bên có thể hợp tác về vệ tinh, viễn thám, quan sát Trái Đất, cảnh báo thiên tai, giám sát vùng trời và vùng biển, đảm bảo an ninh hàng hải và quản lý tài nguyên. Việt Nam có thể kết nối với các tập đoàn và cơ quan của Canada như Telesat, MDA, Transport Canada, NAV CANADA và Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia để tiếp cận kinh nghiệm về hạ tầng không gian, quản lý thiết bị bay không người lái, quy hoạch, tiêu chuẩn, thử nghiệm và chứng nhận an toàn.
Để tạo lập nền tảng tài chính và thể chế cho các dự án chung, ông Lê Quốc Dũng đề xuất xây dựng cơ chế đồng tài trợ đổi mới sáng tạo giữa Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia Việt Nam (NIC) với Bộ Đổi mới, Khoa học và Phát triển Kinh tế Canada (ISED) cùng các cơ quan liên quan.
Cơ chế này có thể được vận hành theo mô hình “2 đầu mối, 1 danh mục dự án”, chưa nhất thiết phải thành lập ngay một bộ máy hoặc trụ sở mới. Doanh nghiệp Việt Nam hoặc Canada đều có thể đề xuất dự án, nhưng phải có đối tác thực chất tại nước còn lại. Doanh nghiệp giữ vai trò xác định nhu cầu thị trường và tổ chức thương mại hóa; các trường đại học, trung tâm công nghệ và nhà khoa học tham gia nghiên cứu, phát triển và thử nghiệm giải pháp.
Một lợi thế đặc biệt của quan hệ Việt Nam - Canada là cộng đồng gần 300.000 người gốc Việt, trong đó có nhiều giáo sư, nhà khoa học, kỹ sư và doanh nhân công nghệ. PGS Vũ Việt Hưng cho biết Mạng lưới Chuyên gia và Nhà khoa học Việt Nam tại Canada có thể đóng vai trò tư vấn, kết nối và góp phần triển khai 10 nhóm công nghệ chiến lược mà Việt Nam đã xác định.
Với đội ngũ chuyên gia hoạt động trong nhiều lĩnh vực như bán dẫn, AI, công nghệ sinh học, năng lượng và hàng không vũ trụ, mạng lưới có thể hỗ trợ Việt Nam tìm kiếm đối tác, đánh giá công nghệ, phản biện chương trình đào tạo, kết nối phòng thí nghiệm và thúc đẩy chuyển giao kết quả nghiên cứu.
Tuy nhiên, theo PGS Vũ Việt Hưng, khả năng đóng góp của đội ngũ chuyên gia sẽ phụ thuộc nhiều vào cam kết ở cấp vĩ mô và các chương trình hợp tác cụ thể được lãnh đạo hai nước thống nhất. Thay vì chỉ huy động chuyên gia tham gia các hoạt động giao lưu hoặc hội thảo riêng lẻ, cần giao những nhiệm vụ có thời hạn, kinh phí, trách nhiệm và sản phẩm đầu ra rõ ràng.
Kế hoạch hành động giai đoạn 2026 - 2028 được thông qua tại Kỳ họp lần thứ ba Ủy ban Hỗn hợp về Kinh tế Việt Nam - Canada đã đưa công nghệ cao, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, năng lượng và tăng trưởng xanh vào nhóm ưu tiên. Đây là cơ sở để đưa khoa học và công nghệ từ một lĩnh vực giàu tiềm năng trở thành trụ cột có chương trình, có nguồn lực và cơ chế điều phối riêng.
Theo các ý kiến tại cuộc gặp, Canada đang ngày càng quan tâm đến Việt Nam, nhưng để chuyển sự quan tâm đó thành dự án và nguồn lực cụ thể, Việt Nam cần chủ động đề xuất sáng kiến và kết nối đối tác. Khi hai nước có thể cùng nghiên cứu, thử nghiệm, đầu tư và đưa công nghệ ra thị trường, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo sẽ trở thành động lực quan trọng thúc đẩy quan hệ song phương phát triển thực chất, bình đẳng và bền vững.