Bài 1: Điểm nghẽn kéo dài nhiều năm kìm hãm nhịp phát triển Thủ đô

Bài 1: Điểm nghẽn kéo dài nhiều năm kìm hãm nhịp phát triển Thủ đô

cover-bai1.png

Ngày 1/7/2026 đánh dấu một cột mốc đặc biệt trong quá trình phát triển của Hà Nội khi Luật Thủ đô chính thức có hiệu lực. Cùng với Nghị quyết số 02 của Bộ Chính trị về phát triển Thủ đô và Quy hoạch Thủ đô tầm nhìn 100 năm, Hà Nội lần đầu tiên có “bộ ba trụ cột” gồm chủ trương, quy hoạch và thể chế, tạo nền tảng để mở rộng không gian phát triển và tháo gỡ những điểm nghẽn kéo dài.

Nếu Nghị quyết số 02 xác lập mục tiêu, định hướng chiến lược; Quy hoạch Thủ đô mở ra tầm nhìn phát triển dài hạn; thì Luật Thủ đô tạo hành lang pháp lý với 199 cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội, giúp Hà Nội chủ động hơn trong quyết định đầu tư, quản lý đất đai, quy hoạch, tổ chức bộ máy và huy động nguồn lực. Như vậy, Hà Nội đang có thêm những công cụ quan trọng để chuyển hóa tầm nhìn phát triển thành các dự án, công trình cụ thể.

dji-20260911113920-0302-d.jpg

Hà Nội đang đứng trước yêu cầu cấp bách tháo gỡ những “điểm nghẽn” đã kéo dài nhiều năm, từ cải tạo chung cư cũ, ùn tắc giao thông đến xử lý ô nhiễm môi trường. Những nút thắt này không chỉ làm chậm tiến độ dự án mà còn tác động trực tiếp đến chất lượng sống và nhịp phát triển của Thủ đô.

bai1-tit1-4109.png

Trên địa bàn Hà Nội hiện có hơn 2.160 nhà chung cư cũ, tập trung tại 48 xã, phường. Phần lớn được xây dựng trước năm 1994, chủ yếu nằm tại các khu vực nội thành, cao từ 2-6 tầng, với kết cấu tường gạch chịu lực, bê tông lắp ghép hoặc khung bê tông cốt thép chịu lực. Sau hàng chục năm sử dụng, nhiều công trình đã xuống cấp, thậm chí có chung cư được xếp vào loại nguy hiểm.

Cải tạo, xây dựng lại các chung cư cũ xuống cấp, nguy hiểm vì thế được Hà Nội xác định là nhiệm vụ cấp bách nhằm bảo đảm an toàn, tính mạng và chất lượng sống của người dân. Tuy nhiên, qua gần 20 năm triển khai, từ năm 2005 đến nay, thành phố mới cải tạo được gần 20 nhà chung cư, tương đương khoảng 1,2%.

Sống tại đơn nguyên 2, khu chung cư 51 Huỳnh Thúc Kháng từ năm 1992 đến nay, bà Đinh Thị Mai Thinh cho biết, hiện các hộ dân đã được bố trí tạm cư tại khu N06 Dịch Vọng để phục vụ quá trình cải tạo, xây dựng lại tòa nhà.

chung-cu-cu.jpg
Trên địa bàn Thủ đô hiện vẫn còn nhiều chung cư cũ xuống cấp, nguy hiểm.

Theo bà Thinh, khi công trình ngày càng xuống cấp, người dân đều mong muốn cơ quan chức năng sớm lựa chọn được doanh nghiệp đủ năng lực để triển khai xây dựng lại. Tuy nhiên, trong quá trình lấy ý kiến, nhiều hộ dân vẫn băn khoăn về tiến độ và tính khả thi của dự án. Người dân chấp thuận di dời nhưng lo ngại thời gian xây dựng kéo dài, không biết đến bao giờ mới có thể trở về nơi ở mới. Một vấn đề khác khiến nhiều gia đình lo lắng là khả năng tài chính. Sau khi xây dựng lại, diện tích căn hộ có thể tăng lên, đồng nghĩa người dân phải bỏ thêm tiền để mua phần diện tích chênh lệch. Với những hộ có thu nhập hạn chế, đây là khoản chi không dễ xoay xở.

Tương tư, tại chung cư CTA1 tại 152 Võ Chí Công (Tây Hồ) được xây dựng hơn 20 năm nay cũng đang được đo đạc lại theo yêu cầu khảo sát của thành phố. Ông Lê Văn Thân, trưởng tòa nhà cho biết: Một số mảng tường đã bị thấm nhưng chủ đầu tư gần nhau không có kinh phí bảo dưỡng. Vài năm trước, chủ đầu tư cũng đã họp dân, trình bày phương án hỗ trợ, tái định cư tại chỗ nhưng từ đó đến nay vẫn treo.

Theo ông Mạc Đình Minh, Đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố, trên địa bàn Thành phố có khoảng 1.500 chung cư, tập thể cũ cần cải tạo. Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất hiện nay không nằm ở việc lựa chọn chủ đầu tư mà là làm thế nào để tạo điều kiện cho các nhà đầu tư tham gia dự án có thể bảo đảm hiệu quả tài chính.

Do vậy, theo ông Minh, Thành phố cần có những cơ chế đủ mạnh để giải quyết các vướng mắc thực tiễn, tạo động lực thu hút nhà đầu tư tham gia các dự án cải tạo chung cư cũ. Cụ thể như cho phép tăng chỉ tiêu dân số tại các khu chung cư cũ trong những trường hợp phù hợp. Đây là giải pháp quan trọng để tạo điều kiện cho nhà đầu tư phát triển quỹ nhà ở thương mại, qua đó bảo đảm khả năng thu hồi vốn và nâng cao tính hấp dẫn của dự án.

Viện trưởng Viện Quy hoạch Xây dựng Hà Nội Lưu Quang Huy cho rằng cải tạo, tái thiết chung cư cũ là một nhiệm vụ quan trọng trong chỉnh trang đô thị, nhưng nhiều năm qua tiến độ rất chậm, chủ yếu do bài toán tài chính chưa đủ hấp dẫn nhà đầu tư. Phần lớn các khu chung cư cũ nằm trong khu vực nội đô lịch sử, nơi mật độ dân số vốn đã rất cao.

Theo ông Huy, phương án tăng dân số để tạo thêm quỹ nhà, qua đó tăng lợi nhuận cho nhà đầu tư, cần được cân nhắc thận trọng. Tại Đống Đa, mật độ dân số khoảng 40.000 người/km², Hai Bà Trưng khoảng 30.000 người/km², trong khi quy chuẩn khoảng 12.000 người/km². Nếu tiếp tục tăng dân số, áp lực lên trường học, giao thông, cây xanh, bãi đỗ xe và hạ tầng xã hội sẽ càng lớn.

chu-cu-cu.jpg
chu-cu-cu-4175.jpg
chu-cu-cu-9057.jpg
chung-cu-cu-9869.jpg
Tái thiết chung cư cũ là một nhiệm vụ quan trọng trong chỉnh trang đô thị.

Vì vậy, Hà Nội cần cơ chế khác để tạo hiệu quả đầu tư, đồng thời bảo đảm mục tiêu tái thiết nội đô lịch sử. Hướng đi phù hợp là tổ chức lại không gian theo từng khu vực, nâng tầng hợp lý, giảm mật độ xây dựng, tăng cây xanh, không gian công cộng và tiện ích đô thị. Đây phải là bài toán tổng thể, hài hòa giữa lợi ích của nhà đầu tư và yêu cầu nâng cao chất lượng sống của người dân.

Nhiều năm qua, TP Hà Nội cũng tích cực lấy ý kiến người dân về các phương án cải tạo. Tuy nhiên, tại nhiều cuộc họp, giữa cư dân, doanh nghiệp và chính quyền vẫn chưa tìm được tiếng nói chung về phương án xây dựng lại các tòa nhà.

Đa số hộ dân mong muốn hệ số bồi thường và diện tích căn hộ tái định cư tại chỗ lớn hơn căn hộ cũ. Trong khi đó, một số hộ chưa đồng thuận với cơ chế bồi thường, hỗ trợ, đặc biệt là các hộ ở tầng 1 có diện tích cơi nới, lấn chiếm không được bồi thường mà chỉ được hỗ trợ. Không ít gia đình cũng gặp khó khăn về kinh tế khi phải chi trả phần diện tích tăng thêm sau cải tạo.

Thực tế tại chung cư 51 Huỳnh Thúc Kháng cho thấy sự chậm trễ kéo dài của bài toán này. Công trình đã bị sập một phần từ năm 2011 nhưng đến đầu tháng 4/2026, những hộ dân cuối cùng mới di dời để phục vụ cải tạo. Tương tự, chung cư C8 Giảng Võ được xếp vào danh sách có nguy cơ sập, cơ quan chức năng phải gia cố thêm khung giằng thép nhưng việc di dời các hộ dân cũng gặp nhiều khó khăn.

Theo chương trình phát triển nhà ở, Hà Nội đặt mục tiêu giai đoạn 2021-2030 hoàn thành 1,5-3 triệu m2 sàn nhà cải tạo, xây dựng lại chung cư cũ, tương ứng khoảng 20.000-40.000 căn hộ. Giai đoạn 2026-2030, thành phố phấn đấu hoàn thành cải tạo, xây dựng lại các chung cư cũ đã có kết luận kiểm định thuộc trường hợp phải phá dỡ; đến năm 2035 hoàn thành cải tạo, chỉnh trang, tái thiết đô thị đối với toàn bộ 2.160 nhà chung cư.

Để thúc đẩy tiến độ, Hà Nội đang xây dựng và hoàn thiện các cơ chế, chính sách mới theo hướng tăng quyền lợi cho người dân, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi hơn cho nhà đầu tư. Thành phố dự kiến cho phép áp dụng hình thức lựa chọn nhà đầu tư trong trường hợp đặc biệt, tức giao chủ đầu tư không thông qua đấu thầu đối với một số dự án cải tạo chung cư cũ.

Một nguyên tắc đáng chú ý là ưu tiên tái định cư tại chỗ, đồng thời nâng cao chất lượng nhà ở và môi trường sống của người dân. Người dân được bố trí tái định cư tại chỗ, trừ trường hợp có nhu cầu nhận tiền hoặc chuyển đến nơi ở khác.

Trong thời gian thực hiện dự án, người dân được bố trí nhà tạm cư hoặc hỗ trợ tiền thuê nhà. Thành phố hỗ trợ tiền thuê theo thời gian thực hiện dự án được phê duyệt, nhưng tối đa không quá 3 năm. Nếu dự án kéo dài quá thời hạn này, chủ đầu tư phải thanh toán toàn bộ chi phí thuê nhà phát sinh.

Thực tế cho thấy, điểm nghẽn lớn nhất của cải tạo chung cư cũ không chỉ nằm ở thủ tục hay sự đồng thuận của người dân, mà còn ở bài toán cân đối tài chính và quy hoạch. Vì vậy, để đẩy nhanh tiến độ, Hà Nội cần thay đổi cách tiếp cận, từ cải tạo đơn lẻ từng tòa nhà sang tái thiết đồng bộ từng khu vực, từng cụm chung cư.

Theo Kế hoạch số 172/KH-UBND ngày 26/4/2026, Hà Nội đang triển khai nghiên cứu lập quy hoạch cải tạo, xây dựng lại chung cư cũ trên địa bàn. Việc lập quy hoạch sẽ rà soát đồng thời hiện trạng sử dụng đất, dân cư, chất lượng công trình, hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, cây xanh, tiện ích công cộng và diện tích đỗ xe. Thành phố cũng nghiên cứu phương án quy gom, sắp xếp các nhà chung cư cũ đơn lẻ để nâng cao tính khả thi của dự án.

chu-cu-cu-116.jpg
Hà Nội đang triển khai nghiên cứu lập quy hoạch cải tạo, xây dựng lại chung cư cũ trên địa bàn.

Đây được xem là hướng đi quan trọng, bởi nếu chỉ phá dỡ và xây lại từng tòa nhà trên nền diện tích cũ, dự án rất khó tạo ra nguồn lực đủ lớn để hấp dẫn doanh nghiệp. Ngược lại, việc quy hoạch theo khu vực có thể cho phép tổ chức lại không gian, bố trí lại chức năng sử dụng đất, tạo quỹ đất và không gian phát triển mới, đồng thời đầu tư đồng bộ hệ thống giao thông, trường học, cây xanh, bãi đỗ xe và các công trình công cộng.

Tuy nhiên, việc tạo dư địa phát triển cho dự án cũng cần được kiểm soát chặt chẽ. Tăng chiều cao, hệ số sử dụng đất hay bổ sung quỹ nhà thương mại chỉ nên được xem là một trong những công cụ tạo nguồn lực, không thể đánh đổi bằng việc tiếp tục gia tăng mật độ dân số tại những khu vực vốn đã quá tải. Bài toán quy hoạch vì vậy phải được đặt trên cơ sở sức chịu tải của hạ tầng, khả năng đáp ứng giao thông, trường học, y tế, không gian xanh và các tiện ích thiết yếu.

Đáng chú ý, Hà Nội đang xây dựng cơ chế lựa chọn nhà đầu tư trong trường hợp đặc biệt đối với một số dự án cải tạo, xây dựng lại chung cư cũ thuộc diện phải phá dỡ. Cơ chế này được kỳ vọng rút ngắn thời gian lựa chọn nhà đầu tư, giảm một khâu thủ tục và tăng tính chủ động trong triển khai dự án.

Song song với đó, quyền lợi của người dân phải được đặt ở vị trí trung tâm. Việc tái định cư tại chỗ cần đi cùng cam kết rõ ràng về diện tích căn hộ, chất lượng nhà ở, thời gian tạm cư và thời điểm bàn giao. Những hộ phải nộp thêm tiền cho phần diện tích tăng thêm cũng cần có phương án tài chính phù hợp, tránh để người dân đồng ý di dời nhưng sau đó lại rơi vào tình trạng không đủ khả năng chi trả.

chungcu-cu-bai1.jpg
Khu tập thể Vĩnh Hồ trước kế hoạch tái thiết đô thị.
bai1-tit2-7446.png

Nếu cải tạo chung cư cũ là bài toán về an toàn và chất lượng sống, thì giải phóng mặt bằng (GPMB) lại là một trong những “điểm nghẽn” lớn nhất khiến các dự án giao thông của Hà Nội kéo dài. Thành phố đang phải đối mặt với tốc độ gia tăng phương tiện cá nhân nhanh hơn nhiều so với khả năng mở rộng hạ tầng. Trong khi đó, nhiều dự án giao thông dù đã có vốn, có thiết kế, thậm chí đã lựa chọn được nhà thầu nhưng vẫn không thể thi công đồng bộ chỉ vì mặt bằng chưa được bàn giao.

Hà Nội hiện có hơn 8 triệu phương tiện, trong đó hơn 1,2 triệu ô tô. Đến giữa năm 2025, tỷ lệ đất dành cho giao thông mới đạt hơn 12%, thấp hơn đáng kể so với mục tiêu 16-20% theo quy hoạch. Ông Nguyễn Phi Thường, nguyên Giám đốc Sở Xây dựng Hà Nội, từng cho biết hạ tầng giao thông chỉ tăng khoảng 0,5%/năm, trong khi phương tiện cá nhân tăng khoảng 4-5%/năm. Khoảng cách này khiến áp lực giao thông ngày càng lớn và việc đầu tư các tuyến đường mới trở thành yêu cầu cấp thiết.

gpmb1.jpg
Quốc lộ 6 đoạn qua phường Chương Mỹ.

Hà Nội đã xác định hướng đi căn cơ là phát triển mạnh đường sắt đô thị, mở rộng các tuyến vành đai, đường hướng tâm, cầu và hệ thống giao thông công cộng. Theo quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm, mạng lưới đường sắt đô thị được định hướng khoảng 1.200 km, trong đó đường sắt đô thị nội vùng khoảng 979 km. Riêng giai đoạn 2026-2030, thành phố đặt mục tiêu hoàn thành 100 km.

Tuy nhiên, muốn đạt được tốc độ đầu tư này, bài toán GPMB phải được giải quyết trước một bước. Thực tế từ nhiều dự án cho thấy, chỉ một số ít hộ dân chưa bàn giao cũng có thể khiến cả công trường bị chia cắt, máy móc không thể triển khai đồng bộ, kéo theo chi phí tăng và thời gian thực hiện dự án kéo dài.

Dự án mở rộng đường Tam Trinh là một ví dụ. Tuyến đường dài 3,5 km, được khởi công từ năm 2016 nhưng sau nhiều năm mới hoàn thành được một phần ngắn, phần còn lại bị chia cắt bởi những đoạn mặt bằng chưa được bàn giao. Tình trạng tương tự từng xảy ra tại dự án nâng cấp Quốc lộ 6 đoạn Hà Đông - Xuân Mai, nút giao Phạm Tu - đường 70 hay tuyến đường sắt đô thị Cát Linh - Hà Đông.

Những thực tế này đặt ra yêu cầu Hà Nội cần nghiên cứu một cơ chế GPMB đặc biệt, đặc thù cho các dự án hạ tầng giao thông trọng điểm, nhất là các công trình có ý nghĩa liên vùng, liên khu vực và tác động trực tiếp đến việc giảm ùn tắc. Trước hết, Hà Nội áp dụng các chính sách của Quốc hội cho phép tăng gấp đôi mức bồi thường GPMB đất so với mức quy định đối với những dự án lớn, quan trọng.

gpmb-ql6-1.jpg
gpmb-ql6-2.jpg
gpmb-ql6-3.jpg
gpmb-ql6-4.jpg
Giải phóng mặt bằng tại Quốc lộ 6 đoạn qua phường Chương Mỹ.

Đặc biệt, Hà Nội có thể nghiên cứu cơ chế tái định cư trước, GPMB sau, tức chủ động tạo quỹ nhà, quỹ đất tái định cư và bố trí nơi ở mới cho người dân trước khi thu hồi đất. Khi người dân nhìn thấy rõ nơi ở mới, điều kiện hạ tầng, trường học, giao thông và các tiện ích đi kèm, việc bàn giao mặt bằng sẽ thuận lợi hơn.

Đối với những dự án đặc biệt cấp bách, có thể nghiên cứu cơ chế tạm ứng nguồn lực để chi trả bồi thường, hỗ trợ, tái định cư ngay sau khi phương án được phê duyệt, thay vì chờ hoàn tất từng thủ tục mới triển khai. Đồng thời, cần phân cấp mạnh hơn cho chính quyền cơ sở trong công tác GPMB, gắn trách nhiệm của người đứng đầu với từng mốc tiến độ cụ thể.

Nhờ những cơ chế, chính sách đặc thù được triển khai, chỉ trong thời gian ngắn, nhiều dự án giao thông trọng điểm của Hà Nội đã tháo gỡ được nút thắt giải phóng mặt bằng (GPMB) kéo dài nhiều năm, tạo điều kiện để các công trình chuyển từ chậm tiến độ sang thi công đồng bộ.

Điển hình là dự án đường Vành đai 1, đoạn Hoàng Cầu - Voi Phục. Chỉ trong 2 tháng cuối năm 2025, Hà Nội đã hoàn thành GPMB toàn bộ tuyến dài hơn 2,2 km, tạo mặt bằng sạch cho nhà thầu triển khai thi công. Nhờ đó, một dự án từng gặp nhiều khó khăn về mặt bằng đã được tổ chức thi công với tốc độ cao và hoàn thành, thông xe chỉ sau khoảng 8 tháng.

Không chỉ Vành đai 1, nhiều dự án giao thông khác như Vành đai 2,5, Quốc lộ 6 đoạn Hà Đông - Xuân Mai, đường Tam Trinh... cũng từng bước được tháo gỡ những vướng mắc về GPMB. Việc tập trung nguồn lực, phân cấp trách nhiệm và áp dụng các cơ chế phù hợp với đặc thù của Thủ đô đã giúp rút ngắn đáng kể thời gian bàn giao mặt bằng, tạo điều kiện để các nhà thầu tổ chức thi công liên tục, hạn chế tình trạng công trường bị chia cắt.

Đây cũng là tiền đề quan trọng để Hà Nội tiếp tục triển khai các dự án vành đai, đường hướng tâm, cầu qua sông và mạng lưới đường sắt đô thị theo quy hoạch. Khi những “nút thắt” về GPMB được tháo gỡ, nguồn lực đầu tư có điều kiện chuyển hóa nhanh hơn thành những công trình cụ thể, qua đó từng bước hoàn thiện mạng lưới giao thông, giảm áp lực lên các tuyến đường hiện hữu và giải quyết những điểm nghẽn ùn tắc của Thủ đô.

gpmb2.jpg
Hà Nội đặt mục tiêu hoàn thành Quốc lộ 6 trong năm 2027.bai1-tit3-5501.png

Cùng với tốc độ đô thị hóa và sức ép ngày càng lớn lên hạ tầng, Hà Nội đang phải đối mặt với một bài toán không mới nhưng ngày càng cấp bách: ô nhiễm môi trường. Nhiều dòng sông từng gắn với đời sống của người dân Thủ đô như Kim Ngưu, Lừ, Sét, Nhuệ nhiều năm phải tiếp nhận nước thải. Không ít hồ nội thành suy giảm chất lượng nước, trong khi ô nhiễm không khí, đặc biệt là bụi mịn PM2.5, thường xuyên diễn biến phức tạp.

Những dòng sông đen, đặc quánh, bốc mùi vào những ngày nắng nóng đã trở thành hình ảnh quen thuộc tại nhiều khu vực nội đô. Thay vì đóng vai trò tiêu thoát nước, điều hòa sinh thái và tạo cảnh quan, một số dòng sông đang trở thành những “kênh dẫn nước thải” giữa lòng thành phố.

o-nhiem.jpg
Hà Nội đang lên kế hoạch 'hồi sinh' các dòng sông.

Sông Nhuệ là một ví dụ điển hình. Trong nhiều năm, dòng sông tiếp nhận lượng lớn nước thải sinh hoạt từ khu dân cư và các cơ sở sản xuất, khiến chất lượng nước suy giảm nghiêm trọng. Theo ông Bùi Duy Cường – Phó Chủ tịch UBND TP Hà Nội, ô nhiễm môi trường ở sông Nhuệ ở mức nghiêm trọng; không đạt mục tiêu cấp nước, không bảo đảm chức năng của nguồn nước mặt, các chỉ tiêu chất lượng nước thường xuyên vượt xa quy chuẩn, ở mức rất xấu. Các địa phương và nhân dân khu vực mong muốn sớm xử lý ô nhiễm môi trường, kết nối giao thông.

Tình trạng tương tự diễn ra tại sông Kim Ngưu, Lừ, Sét. Vào mùa khô, khi dòng chảy yếu, nước sông thường chuyển màu đen, bốc mùi hôi; rác thải và bùn lắng xuất hiện dày đặc. Những ngày mưa lớn, tình trạng có thể cải thiện phần nào nhưng chỉ mang tính tạm thời.

Từ khoảng tháng 10 của năm trước đến tháng 3, tháng 4 năm sau là giai đoạn ô nhiễm không khí diễn ra nghiêm trọng nhất, đặc biệt tại khu vực Hà Nội.

Không chỉ sông ngòi, nhiều hồ nội thành cũng chịu sức ép từ nước thải, rác thải và quá trình đô thị hóa. Trong khi đó, chất lượng không khí tiếp tục là vấn đề được người dân quan tâm, nhất là vào những tháng mùa đông khi điều kiện thời tiết khiến bụi mịn PM2.5 tích tụ. Theo bà Lê Thanh Thủy, Phó Trưởng Phòng Quản lý môi trường, Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội, từ khoảng tháng 10 của năm trước đến tháng 3, tháng 4 năm sau là giai đoạn ô nhiễm không khí diễn ra nghiêm trọng nhất, đặc biệt tại khu vực Hà Nội.

Theo bà Thủy, Hà Nội phải chịu rất nhiều điều kiện không thuận lợi, dẫn tới gánh chịu tác động ô nhiễm không khí nặng nề, ảnh hưởng tới sức khỏe người dân và hoạt động sản xuất khác. Có 2 nhóm nguyên nhân chính gây ô nhiễm không khí ở Thủ đô. Đầu tiên là nguồn nội tại khi Hà Nội như một lòng chảo, đang phải gánh chịu các hoạt động rất lớn từ mật độ phương tiện giao thông cao, hoạt động xây dựng, sản xuất cao, rồi còn tình trạng đốt rơm rạ, đốt rác ở khu dân cư. Tiếp đó là ô nhiễm ở Hà Nội còn tới từ các tỉnh lân cận.

Thực tế cho thấy bài toán môi trường của Hà Nội không thể giải quyết bằng những biện pháp đơn lẻ. Thành phố đã triển khai nhiều dự án xử lý nước thải, cải tạo sông hồ, xây dựng hệ thống thoát nước, phát triển giao thông công cộng, mở rộng không gian xanh và kiểm soát nguồn phát thải. Tuy nhiên, hiệu quả thực tế chưa tương xứng với nguồn lực đã bỏ ra. Các dự án môi trường thường có quy mô lớn, liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực và chịu sự điều chỉnh của nhiều quy định. Chỉ một khâu kéo dài cũng có thể ảnh hưởng đến toàn bộ tiến độ.

o-nhiem-151.jpg
o-nhiem-200.jpg
o-nhiem-2219.jpg
o-nhiem-522.jpg
Nhiều dòng sông từng gắn với đời sống của người dân Thủ đô như Kim Ngưu, Lừ, Sét, Nhuệ nhiều năm phải tiếp nhận nước thải.

Đáng chú ý, tháng 7/2026, HĐND TP Hà Nội đã phê duyệt chủ trương đầu tư dự án tu bổ hệ thống đê điều, nạo vét và xử lý ô nhiễm môi trường sông Nhuệ theo phương thức PPP, với tổng mức đầu tư sơ bộ khoảng 75.115 tỷ đồng. Dự án dự kiến thực hiện giai đoạn 2026-2029, trong đó có hợp phần đầu tư các nhà máy xử lý nước thải theo quy hoạch.

Cách tiếp cận này cho thấy xử lý sông Nhuệ không chỉ dừng ở nạo vét hay làm sạch lòng sông. Muốn “hồi sinh” dòng sông, phải đồng thời giải quyết nguồn nước thải, dòng chảy, bùn đáy, hành lang bảo vệ và hệ thống hạ tầng hai bên sông. Đây cũng là hướng cần áp dụng với các sông Kim Ngưu, Lừ, Sét và những tuyến tiêu thoát nước khác.

Với sông Tô Lịch đang cho thấy hiệu quả của cách làm đồng bộ của TP Hà Nội. Hơn một năm qua, Hà Nội đồng thời triển khai nạo vét, tách nước thải, bổ cập nước từ hồ Tây và thực hiện dự án khẩn cấp bổ cập từ sông Hồng, từng bước cải thiện chất lượng nước và cảnh quan dòng sông. Việc xử lý đồng thời nguồn thải và dòng chảy đang giúp Tô Lịch từng bước “hồi sinh”, tạo tiền đề nhân rộng mô hình với các dòng sông khác.

Với ô nhiễm không khí, Hà Nội cũng cần chuyển mạnh từ xử lý hậu quả sang kiểm soát nguồn phát thải. Giao thông, xây dựng, sản xuất, đốt rác, đốt phụ phẩm nông nghiệp và các nguồn phát thải từ khu vực lân cận cần được kiểm soát đồng thời.

Một trong những giải pháp quan trọng là mở rộng giao thông xanh, phát triển vận tải công cộng và từng bước hạn chế phương tiện phát thải cao tại những khu vực ô nhiễm nghiêm trọng. Hà Nội đã triển khai thí điểm vùng phát thải thấp trong Vành đai 1 từ ngày 1/7/2026, kết hợp kiểm soát phương tiện với phát triển xe buýt xanh, xe đạp và xe điện công cộng.

Nhờ các giải pháp đó, nhiều tháng qua, chất lượng không khí trên địa bàn TP Hà Nội đã cải thiện đáng kể. Ông Lê Thanh Nam – Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội cho biết, từ ngày 1/1 đến 11/8, tỷ lệ số ngày có chất lượng không khí ở mức tốt và trung bình trên địa bàn thành phố đạt 73,28%, tăng đáng kể so với mức 71,18% của kỳ báo cáo 6 tháng. Kết quả này đang đưa Hà Nội tiến gần mục tiêu 75% số ngày có chất lượng không khí tốt và trung bình trong năm 2026. Nồng độ bụi mịn PM2.5 trung bình ngày đạt 40,95 µg/m³, đáp ứng quy chuẩn QCVN 05.

toancanh1.jpg
Hà Nội bắt đầu vào cao điểm ô nhiễm không khí.
bai1-tit4-6117.png

Một trong những điểm đáng chú ý của nghị quyết Quốc hội là việc thiết lập các cơ chế đặc thù, tạo thêm dư địa để Hà Nội chủ động triển khai những dự án có quy mô lớn, tính chất chiến lược. Điển hình trong đó là những công trình chống ngập khẩn cấp cho thấy rõ hơn hiệu quả của việc trao quyền gắn với cách làm quyết liệt, tập trung.

Trong nhiều năm, úng ngập được xem là một trong những điểm nghẽn hạ tầng của Hà Nội, đặc biệt trong bối cảnh đô thị hóa nhanh, diện tích bê tông hóa ngày càng lớn trong khi hệ thống tiêu thoát nước chưa được đầu tư đồng bộ. Mỗi trận mưa lớn lại cho thấy những điểm yếu của hệ thống, từ năng lực thu gom, tiêu thoát đến khả năng điều tiết nước.

1790154239316-6605608991412351951-6605608991412351951-508c148e4ffe9362c7a5cc52f032b5e6.jpg
1790154246154-6605608991412351951-6605608991412351951-28e5d053b8d1fd015709411db1e31a52.jpg
1790154248212-6605608991412351951-6605608991412351951-a0e3a0a390341be5afc2dc788f55d079.jpg
1790154249005-6605608991412351951-6605608991412351951-626ced8044c2164e0f5d539115bc34ef.jpg
Nhiều tuyến phố đã bị ngập sâu sau đợt mưa giữa tháng 9 vừa qua.

Để xử lý cấp bách tình trạng này, cuối năm 2025, UBND TP Hà Nội ban hành 10 quyết định lệnh xây dựng công trình khẩn cấp chống úng ngập với tổng mức đầu tư gần 5.600 tỷ đồng. Trong đó có 7 hồ điều hòa tại các phường Từ Liêm, Đông Ngạc, Đại Mỗ và xã An Khánh, nhằm tăng khả năng trữ nước, điều tiết dòng chảy khi mưa lớn. Thành phố đồng thời tập trung nguồn lực cải tạo, mở rộng hệ thống thu gom, dẫn nước trên đường Quang Trung, Phan Chu Trinh.

Sau khoảng 5 tháng thi công, đến đầu tháng 6/2026, 10 công trình chống ngập thực hiện theo lệnh khẩn cấp đã cơ bản hoàn thành và đưa vào vận hành.

Nhờ những cơ chế, chính sách đặc thù được Trung ương thông qua từ cuối năm 2025 đến nay, thời gian thực hiện được rút ngắn đáng kể so với quy trình thông thường, từ gần 2 năm xuống khoảng 5 tháng, đồng thời giúp thành phố tiết kiệm hơn 2.000 tỷ đồng ngân sách.

Người dân Hà Nội bì bõm lội nước, nhiều xe chết máy trong trận mưa ngày 17/9.

Hàng nghìn kỹ sư, công nhân đã làm việc liên tục trong khoảng 80 ngày đêm trên các công trường để đưa dự án về đích. Theo ông Trương Quốc Bảo, Trưởng ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình hạ tầng kỹ thuật và nông nghiệp TP Hà Nội, với những dự án có quy mô tương tự, sau khi hoàn tất thiết kế và giải phóng mặt bằng, thời gian thi công thông thường có thể kéo dài từ một năm rưỡi đến hai năm.

Việc hoàn thành các khâu từ thiết kế đến thi công trong khoảng 5 tháng vì thế cho thấy hiệu quả của cách làm tập trung, quyết liệt và huy động đồng bộ nguồn lực. Đây cũng là minh chứng cho yêu cầu “trao quyền đi đôi với trách nhiệm” trong quản trị Thủ đô.

Giá trị của những công trình chống ngập, tuy nhiên, không thể chỉ được tính bằng số vốn đầu tư hay tiến độ thi công. Thước đo quan trọng nhất phải là hiệu quả sau khi công trình đưa vào vận hành. Những trận mưa lớn trong tháng 7 và đầu tháng 8/2026 đã cho Hà Nội cơ hội đầu tiên để kiểm chứng.

chong-ngap.jpg
Công trình chống ngập khẩn cấp bước đầu phát huy hiệu quả.

Rạng sáng 25/7, Hà Nội xuất hiện mưa dông diện rộng, nhiều khu vực ghi nhận lượng mưa gần 100 mm, có nơi vượt 120 mm. Toàn thành phố chỉ ghi nhận hơn 10 điểm úng ngập trong các ngõ, xóm - những khu vực chưa được đầu tư hệ thống thoát nước theo lệnh khẩn cấp.

Theo đánh giá của Sở Xây dựng Hà Nội, nhiều khu vực nước rút trong 15-20 phút; riêng khu vực Đại lộ Thăng Long không phát sinh điểm ngập nhờ các trạm bơm chủ động hạ mực nước đệm trước mưa.

*****
Bài và ảnh: Quang Phong - Xuân Cường
Trình bày: Nguyễn Hà

Quang Phong - Xuân Cường

Dành cho bạn

Lật từng phiến đá, bới từng tấc đất tìm đồng đội giữa ‘lò vôi thế kỷ’

Lật từng phiến đá, bới từng tấc đất tìm đồng đội giữa ‘lò vôi thế kỷ’

Trên những điểm cao từng hứng chịu mưa bom, bão đạn ở mặt trận Vị Xuyên, cán bộ, chiến sĩ Đội tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Tuyên Quang vẫn ngày ngày vượt núi, xuyên rừng, lật từng phiến đá, bới từng tấc đất với mong muốn đưa những người lính đã hy sinh trở về quê hương.
Biến danh hiệu UNESCO thành nguồn lực quốc gia - Bài cuối: Khai mở ‘mỏ vàng’ di sản, nâng tầm ngoại giao văn hóa

Biến danh hiệu UNESCO thành nguồn lực quốc gia - Bài cuối: Khai mở ‘mỏ vàng’ di sản, nâng tầm ngoại giao văn hóa

“Khi bảo tồn tốt di sản văn hoá, phát huy hiệu quả giá trị và để cộng đồng thực sự được hưởng lợi, thì chính mỗi di sản sẽ trở thành một ‘đại sứ văn hóa’, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, tăng cường ngoại giao văn hóa và nâng cao sức mạnh mềm của quốc gia”, PGS.TS Lê Thị Thu Hiền, Cục trưởng Cục Di sản Văn hóa nhấn mạnh.
Biến danh hiệu UNESCO thành nguồn lực quốc gia - Bài 1: Từ ‘chứng thư văn hoá’ đến kết nối toàn cầu

Biến danh hiệu UNESCO thành nguồn lực quốc gia - Bài 1: Từ ‘chứng thư văn hoá’ đến kết nối toàn cầu

“Mỗi danh hiệu UNESCO không chỉ là niềm tự hào của một địa phương hay một cộng đồng, mà còn là một ‘chứng thư văn hóa’ có giá trị toàn cầu, góp phần khẳng định vị trí của Việt Nam trong kho tàng di sản chung của nhân loại”, PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội nhấn mạnh.