Tại Việt Nam, quá trình già hóa dân số đang diễn ra với tốc độ nhanh. Dự báo đến năm 2030, Việt Nam sẽ có xấp xỉ 18 triệu người cao tuổi, tăng gần 4 triệu người so với năm 2024. Thực trạng này mang đến cả thách thức lẫn cơ hội; tạo ra áp lực lớn về an sinh xã hội, nhưng cũng là động lực để tìm kiếm mô hình tăng trưởng mới, phát triển nhanh và bền vững. Kinh tế bạc đang có cơ hội mở rộng không gian phát triển, tạo nguồn lực quý báu cho sự phát triển chung của đất nước.
Thời gian gần đây, khái niệm “kinh tế bạc” (Silver Economy) được nhắc đến như một xu hướng nổi bật, gắn liền với quá trình già hóa dân số diễn ra nhanh trên phạm vi toàn cầu. Đây là tổng thể các hoạt động kinh tế cung cấp sản phẩm, dịch vụ cho người cao tuổi, đồng thời khai thác và phát huy vai trò của nhóm dân số này trong phát triển kinh tế - xã hội.
Cùng với sự gia tăng nhanh chóng của tuổi thọ và xu hướng giảm tỷ lệ sinh, nhiều quốc gia đã và đang bước vào giai đoạn dân số già. Báo cáo của Liên hợp quốc cho biết, thế giới hiện có khoảng 760 triệu người từ 65 tuổi trở lên, con số này dự báo sẽ tăng lên 1,6 tỷ người vào năm 2050. Sự gia tăng mạnh mẽ của nhóm dân số cao tuổi đã kéo theo nhu cầu tiêu dùng đặc thù, từ đó thúc đẩy kinh tế bạc phát triển, ngày càng chiếm tỷ trọng đáng kể trong nền kinh tế.
Kinh tế bạc bao phủ nhiều lĩnh vực cốt lõi như chăm sóc sức khỏe, dịch vụ vui chơi giải trí, bất động sản dành cho người cao tuổi, tài chính - ngân hàng, lao động - việc làm, giáo dục - đào tạo, công nghệ, giao thông và dinh dưỡng. Trong đó, các dịch vụ y tế lão khoa, chăm sóc dài hạn, thiết bị thông minh hay các sản phẩm dinh dưỡng chuyên biệt đang trở thành những ngành có tốc độ tăng trưởng nhanh.
Kinh tế bạc bao gồm hai lĩnh vực chính: Một là sự tham gia trực tiếp của người cao tuổi vào hoạt động kinh tế thông qua kinh nghiệm, tri thức và nguồn lực tài chính; hai là sự phát triển của các ngành dịch vụ phục vụ người cao tuổi, từ chăm sóc sức khỏe, y tế, đời sống tinh thần đến các sản phẩm và công nghệ hỗ trợ.
Đồng thời, kinh tế bạc phân hóa theo từng nhóm tuổi. Nhóm từ 60-70 tuổi thường có nhu cầu cao về kết nối cộng đồng, thể thao, du lịch, văn hóa nghệ thuật…; nhóm cao tuổi hơn lại cần các dịch vụ chuyên sâu như chăm sóc y tế, quản lý bệnh tật, hỗ trợ đi lại, các thiết bị hỗ trợ sinh hoạt, nghe nhìn… Điều này đòi hỏi các sản phẩm, dịch vụ phải được thiết kế linh hoạt, phù hợp với đặc điểm và nhu cầu của từng nhóm đối tượng.
Đã có những quốc gia ngay gần Việt Nam đã rất thành công khi phát triển các dòng sản phẩm như: ngôi nhà trú đông, kỳ nghỉ trốn đông... kèm theo đó là gia tăng các dịch vụ vận tải, y tế cao cấp phục vụ và thu hút nhu cầu của các nhóm dân số bạc từ châu Âu, châu Mỹ...
Theo báo cáo của Liên minh châu Âu (EU), kinh tế bạc chiếm khoảng 25% chi tiêu tiêu dùng toàn khối, tương đương hơn 3.700 tỷ euro mỗi năm. Nghiên cứu của Tổ chức tư vấn kinh tế độc lập hàng đầu thế giới Oxford Economics ước tính, vào năm 2050, giá trị toàn cầu của kinh tế bạc có thể đạt hơn 15.000 tỷ USD, bao gồm nhiều lĩnh vực, như y tế, dược phẩm, bảo hiểm, tài chính, du lịch, công nghệ số, thiết bị hỗ trợ và dịch vụ cộng đồng.
Tại Việt Nam, quá trình già hóa dân số đang diễn ra với tốc độ nhanh. Dự báo đến năm 2030, Việt Nam sẽ có xấp xỉ 18 triệu người cao tuổi, tăng gần 4 triệu người so với năm 2024. Thực trạng này mang đến cả thách thức lẫn cơ hội; tạo ra áp lực lớn về an sinh xã hội, nhưng cũng là động lực để tìm kiếm mô hình tăng trưởng mới, phát triển nhanh và bền vững.
Theo nhận định của các chuyên gia, kinh tế bạc ở Việt Nam hiện vẫn trong giai đoạn hình thành, quy mô còn nhỏ lẻ, phân tán và chưa được nhìn nhận đầy đủ như một lĩnh vực kinh tế độc lập. Hệ thống thể chế còn chưa đồng bộ, đặc biệt là các quy hoạch và tiêu chuẩn kỹ thuật cho hạ tầng thân thiện với người cao tuổi. Bên cạnh đó, nguồn nhân lực được đào tạo chuyên sâu về lão khoa, quản lý dịch vụ trong lĩnh vực này còn thiếu hụt. Các sản phẩm, dịch vụ dành riêng cho người cao tuổi ít và không phong phú.
Ở góc độ xã hội, người cao tuổi Việt Nam có xu hướng tiết kiệm, chưa sẵn sàng chi trả cho các dịch vụ chăm sóc, giải trí chất lượng cao, đồng thời còn phụ thuộc nhiều vào con cái và gia đình. Cùng với đó, hệ thống cơ sở dưỡng lão đạt chuẩn quốc tế còn hạn chế, chi phí dịch vụ chưa phù hợp với đa số người dân. Các mô hình mới, ứng dụng công nghệ hỗ trợ người cao tuổi cũng chưa được phát triển tương xứng với nhu cầu thực tiễn…
Các chuyên gia nhận định, già hóa dân số không chỉ là thách thức mà còn là “cơ hội vàng” để phát triển các ngành kinh tế mới. Trong bối cảnh đất nước đẩy mạnh chuyển đổi mô hình tăng trưởng, phát triển kinh tế tri thức, kinh tế xanh và xã hội số, việc nghiên cứu, hoạch định chính sách phát triển kinh tế bạc càng có ý nghĩa góp phần bảo đảm an sinh xã hội, thúc đẩy tăng trưởng bền vững, nâng cao vị thế quốc gia trong kỷ nguyên mới.
Bà Pauline Tamesis, Điều phối viên thường trú Liên hợp quốc tại Việt Nam nhận định, quá trình từ một xã hội “đang già hóa” sang “xã hội già” tại Việt Nam diễn ra nhanh hơn so với nhiều quốc gia khác. Điều này đặt ra hai thách thức lớn: hệ thống chăm sóc người cao tuổi chưa phát triển tương xứng với nhu cầu, trong khi vẫn phụ thuộc đáng kể vào nguồn lao động chăm sóc không được trả công, chủ yếu do phụ nữ đảm nhận. Trong bối cảnh đó, cùng với những yêu cầu cấp thiết từ chuyển đổi số, biến đổi khí hậu và cải cách hành chính công, áp lực đối với mô hình tăng trưởng ngày càng gia tăng, cho thấy sự cần thiết phải phát triển kinh tế bạc như một hướng đi chiến lược, góp phần tạo động lực mới cho tăng trưởng và thúc đẩy mục tiêu phát triển theo hướng thu nhập cao.
Theo bà Pauline Tamesis, phát triển kinh tế bạc tại Việt Nam cần được tích hợp với nhu cầu chăm sóc trẻ em, người khuyết tật và các nhóm dân số khác. Đồng thời, cần thiết phải giảm gánh nặng công việc chăm sóc không được trả công cho phụ nữ, nhằm bảo đảm lợi ích kinh tế và tính bao trùm.
Tại phường Bình Phước, thành phố Đồng Nai, một trụ sở cũ đã được cải tạo thành mô hình chăm sóc sức khỏe người cao tuổi, vừa giải quyết bài toán sử dụng tài sản công, vừa đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng lớn của người dân.
Tiến sĩ Đoàn Hữu Bẩy, Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam cho rằng để kinh tế bạc thực sự trở thành động lực phát triển, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó trước hết là nâng cao nhận thức của toàn xã hội về vai trò, tiềm năng của lĩnh vực này. Cụ thể, cần đẩy mạnh công tác truyền thông, giúp cộng đồng doanh nghiệp, các nhà hoạch định chính sách hiểu rõ kinh tế bạc không chỉ là lĩnh vực an sinh mà còn là một ngành kinh tế có khả năng tạo ra giá trị gia tăng lớn. Bên cạnh đó, cần xây dựng chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế bạc trong tổng thể nền kinh tế quốc dân, gắn phát triển kinh tế bạc với củng cố hệ thống an sinh xã hội. Mô hình “Nhà nước kiến tạo - thị trường vận hành”, trong đó Nhà nước giữ vai trò định hướng, xây dựng cơ chế, chính sách và tạo lập môi trường thuận lợi, còn doanh nghiệp và các thành phần kinh tế chủ động đầu tư, phát triển sản phẩm, dịch vụ theo nhu cầu thị trường.
Ngoài ra, việc học hỏi kinh nghiệm quốc tế cũng cần được đẩy mạnh, song phải có sự chọn lọc, vận dụng phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam. Đồng thời, cần xây dựng các chính sách cụ thể nhằm phát huy vai trò của người cao tuổi, tạo việc làm, đào tạo kỹ năng, khuyến khích doanh nghiệp sử dụng lao động cao tuổi; thúc đẩy hợp tác công - tư, đầu tư vào hạ tầng xã hội và y tế, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong các ngành liên quan đến kinh tế bạc.
Là đô thị lớn, thu hút đông lao động trẻ, Hà Nội cũng đang đối mặt với mức sinh thấp kéo dài, đặt ra những thách thức không nhỏ đối với cơ cấu dân số trong những năm tới. Sáu tháng đầu năm 2026, toàn thành phố ghi nhận 37.629 trẻ được sinh ra, giảm 2.873 trẻ so với cùng kỳ năm trước, cho thấy mục tiêu đưa mức sinh trở lại mức thay thế vẫn còn nhiều thách thức. Trong khi đó, số người cao tuổi tiếp tục gia tăng, kéo theo nhu cầu lớn hơn về chăm sóc sức khỏe và an sinh xã hội.
Sự thay đổi trong cơ cấu dân số cũng đang tạo ra một thị trường mới với nhu cầu ngày càng đa dạng, từ chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, du lịch, giải trí, nhà ở đến các dịch vụ tài chính và công nghệ. Đây chính là nền tảng để Hà Nội từng bước phát triển “kinh tế bạc” theo hướng nhân văn, bền vững, vừa đáp ứng nhu cầu của một xã hội già hóa vừa khai thác hiệu quả nguồn lực nội sinh của Thủ đô.
Ông Nguyễn Thế Toàn, Chủ tịch Hội Người cao tuổi thành phố Hà Nội cho biết, những năm gần đây, Thành ủy, HĐND, UBND, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Hà Nội luôn quan tâm đến người cao tuổi bằng những cơ chế, chính sách thiết thực, ý nghĩa. Trong đó, Thành ủy Hà Nội đã chỉ đạo tăng cường vai trò lãnh đạo của cấp ủy Đảng đối với công tác bảo vệ, chăm sóc, phát huy vai trò người cao tuổi; khẳng định với kinh nghiệm, bản lĩnh, trí tuệ, uy tín, người cao tuổi Thủ đô là một nguồn lực to lớn, rất quý báu cho sự nghiệp phát triển của từng địa phương và của Thủ đô. Thành phố cũng đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách để giúp bảo vệ, chăm sóc người cao tuổi tốt hơn như miễn phí giao thông công cộng; người cao tuổi từ 70 tuổi trở lên được cấp bảo hiểm y tế...
Thực tế tại Hà Nội cho thấy, các mô hình chăm sóc người cao tuổi đang từng bước được đa dạng hóa, phù hợp với nhu cầu ngày càng cao của một đô thị già hóa. Tại phường Long Biên, mô hình “Cơ sở chăm sóc sức khỏe ban ngày cho người cao tuổi” được đưa vào hoạt động từ tháng 6/2026, theo phương thức “sáng đi, chiều về”. Người cao tuổi được theo dõi sức khỏe, quản lý bệnh mạn tính, tư vấn dinh dưỡng, phục hồi chức năng, tập luyện, chăm sóc sức khỏe tinh thần và tham gia các hoạt động giao lưu cộng đồng nhưng vẫn duy trì cuộc sống cùng gia đình.
Cũng từ tháng 7/2026, phường Đống Đa (Hà Nội) đã triển khai thí điểm mô hình chăm sóc người cao tuổi ban ngày, tạo thêm không gian để người cao tuổi được theo dõi sức khỏe, tập luyện, nghỉ ngơi và giao lưu. Không lưu trú qua đêm, người cao tuổi đến cơ sở vào ban ngày rồi trở về nhà. Chính thức đón người cao tuổi bán trú từ ngày 1/8, mô hình nhận được sự quan tâm của nhiều người cao tuổi phường Đống Đa.
Những mô hình này cho thấy Hà Nội đang từng bước chuyển từ cách tiếp cận chủ yếu dựa vào gia đình sang hình thành mạng lưới chăm sóc đa tầng, kết nối giữa y tế cơ sở, cộng đồng, gia đình và các dịch vụ chuyên nghiệp. Đây không chỉ là giải pháp thích ứng với già hóa dân số mà còn mở ra dư địa phát triển các dịch vụ chăm sóc, phục hồi chức năng, dinh dưỡng, chăm sóc tại nhà và nâng cao chất lượng sống cho người cao tuổi. Khi được tổ chức bài bản và kết nối đồng bộ, những nhu cầu ngày càng lớn này sẽ trở thành thị trường giàu tiềm năng, góp phần đưa “kinh tế bạc” trở thành một động lực mới trong quá trình phát triển bền vững của Thủ đô.
Bên cạnh đó, theo số liệu thống kê của Hội Người cao tuổi thành phố, Hà Nội hiện có hơn 290.000 người cao tuổi là cán bộ, công chức, viên chức nghỉ hưu, trong đó có khoảng từ 70.000 - 100.000 người là đội ngũ trí thức, nhà khoa học, nhà giáo, nghệ sĩ, doanh nhân thành đạt và nghệ nhân làng nghề. Đây thực sự là nguồn lực trí tuệ đặc biệt quý giá, là tài sản quan trọng của Thủ đô.
Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Thị An, Chủ tịch Hội Nữ trí thức Hà Nội, Viện trưởng Viện Tài nguyên, Môi trường và Phát triển cộng đồng, cốt lõi của “kinh tế bạc” không chỉ là chăm lo đời sống, sức khỏe, an sinh cho người cao tuổi mà còn phải khai thác, phát huy hiệu quả nguồn lực trí tuệ, kinh nghiệm và vốn sống của nhóm dân số này. Trong đó, cần đặc biệt quan tâm đến phụ nữ cao tuổi - lực lượng chiếm tỷ lệ đáng kể trong dân số cao tuổi.
Theo bà Bùi Thị An, thời gian qua, cả nước nói chung và Hà Nội nói riêng đã triển khai nhiều chính sách chăm lo người cao tuổi; đồng thời từng bước tạo điều kiện để người cao tuổi tiếp tục tham gia và đóng góp cho xã hội. Thực tế cho thấy, nguồn lực này đang hiện diện trong nhiều lĩnh vực, từ khoa học, nghệ thuật, làng nghề đến sản xuất, kinh doanh và các hoạt động xã hội. Đây là những giá trị không thể đo đếm đơn thuần bằng tuổi tác mà cần được nhìn nhận như một nguồn lực quan trọng phục vụ phát triển.
Xác lập kỷ lục Việt Nam với sự kiện biểu diễn Dân vũ có số lượng người cao tuổi cùng tham gia đông nhất.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Viết Lưu, Phó Chánh Văn phòng Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam cũng cho rằng, trẻ em là lớp măng non của tương lai thì người cao tuổi là những người đã đi qua năm tháng, đã cống hiến cho gia đình, cộng đồng và đất nước. Dù không còn đảm nhiệm các vị trí trong bộ máy quản lý nhà nước hay các tổ chức xã hội nhưng những giá trị tích lũy về uy tín, kinh nghiệm, trí tuệ và đặc biệt là tâm huyết tiếp tục cống hiến vẫn còn nguyên vẹn.
“Yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay đòi hỏi sự chung sức, đồng lòng của toàn dân. Trong tiến trình đó, người cao tuổi không thể đứng ngoài cuộc, không chỉ là động viên, cổ vũ thế hệ trẻ mà còn là những đóng góp trực tiếp trong lao động, sản xuất và kinh doanh. Đây là nguồn lực quý báu cần tiếp tục được phát huy, vừa đáp ứng nguyện vọng tiếp tục cống hiến của người cao tuổi, vừa góp phần tạo thêm của cải cho xã hội, giảm gánh nặng cho con cháu”, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Viết Lưu khẳng định.
VIDEO: Tư duy mới về chăm sóc sức khỏe người cao tuổi
*****
Bài: Phương Thanh - Nguyễn Cúc - KT
Ảnh, đồ họa, video: TTXVN - TTXVN phát
Biên tập: Kỳ Thư
Trình bày: Phùng Sắc