Quản trị phát triển xã hội trong tiến trình chuyển đổi số

Trong tiến trình chuyển đổi số quốc gia, quản trị phát triển xã hội đang đứng trước những cơ hội và thách thức mới, đòi hỏi đổi mới toàn diện về thể chế, công nghệ và phương thức tham gia của người dân, doanh nghiệp.

Yêu cầu tất yếu trong tiến trình phát triển

Trong bối cảnh thế giới đang chuyển dịch mạnh mẽ sang kinh tế số và xã hội số, quản trị phát triển xã hội đứng trước những yêu cầu và cơ hội hoàn toàn mới. Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo (AI) không chỉ làm thay đổi mô hình sản xuất, quản lý và cung ứng dịch vụ công, mà còn đặt ra yêu cầu cấp thiết về đổi mới phương thức quản trị xã hội theo hướng hiện đại, minh bạch, lấy người dân làm trung tâm.

Phân tích về vấn đề này, GS.TS. Đặng Nguyên Anh, nguyên Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam cho rằng, quản trị phát triển xã hội trong kỷ nguyên số không đơn thuần là số hóa thủ tục hành chính hay xây dựng chính phủ điện tử, mà là quá trình tái cấu trúc toàn diện phương thức tổ chức, điều phối và quản lý các quan hệ xã hội trong không gian số, nhằm bảo đảm phát triển bao trùm, công bằng và bền vững.

Chú thích ảnh
Người dân lấy số thứ tự tại Trung tâm phục vụ hành chính công tại xã An Thành (Hải Phòng). 

Theo GS.TS. Đặng Nguyên Anh, chuyển đổi số đã trở thành trụ cột trong chiến lược phát triển quốc gia của Việt Nam, gắn chặt với mục tiêu đến năm 2045 trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao. Sự lan tỏa của internet, nền tảng số và AI đang tạo ra những biến đổi sâu sắc trong quản lý nhà nước, thị trường lao động, an sinh xã hội cũng như đời sống người dân. Trong bối cảnh đó, nếu không kịp thời đổi mới tư duy và mô hình quản trị, các chính sách phát triển xã hội sẽ khó theo kịp thực tiễn, thậm chí làm gia tăng bất bình đẳng.

Thực tế cho thấy, nhiều chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước đã xác định rõ vai trò trung tâm của chuyển đổi số trong quản trị xã hội. Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị ban hành tháng 7/2024 khẳng định chuyển đổi số là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài của toàn hệ thống chính trị, nhằm nâng cao hiệu lực quản lý, hiệu quả cung ứng dịch vụ công và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp. Trước đó, Quyết định 749/QĐ-TTg về Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đã đặt nền móng cho phát triển chính phủ số, kinh tế số và xã hội số, với định hướng lấy người dân làm trung tâm.

Đây chính là cơ sở quan trọng để Việt Nam chuyển từ mô hình quản lý hành chính truyền thống sang quản trị phát triển xã hội số, dựa trên dữ liệu, công nghệ và sự tham gia rộng rãi của các chủ thể trong xã hội.

Ba trụ cột của quản trị phát triển xã hội 

Từ góc độ tiếp cận hiện đại, GS.TS. Đặng Nguyên Anh cho rằng quản trị phát triển xã hội trong kỷ nguyên số có thể được cấu trúc theo ba trụ cột cốt lõi.

Thứ nhất là thể chế và chính sách hiệu quả. Một nền quản trị xã hội số chỉ có thể vận hành thông suốt khi có khung pháp lý rõ ràng, cơ chế phối hợp liên ngành thống nhất và năng lực điều hành linh hoạt. Thực tiễn triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia như giảm nghèo bền vững hay xây dựng nông thôn mới cho thấy, khi phân cấp rõ ràng, tăng cường giám sát cộng đồng và ứng dụng công nghệ, hiệu quả sử dụng nguồn lực được nâng lên rõ rệt.

Thứ hai là công nghệ, dữ liệu và nguồn nhân lực số. Việc xây dựng và tích hợp các cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, đất đai, bảo hiểm, doanh nghiệp, cùng với ứng dụng VNeID, đang tạo nền tảng quan trọng cho quản trị xã hội dựa trên dữ liệu. Tuy nhiên, theo GS.TS. Đặng Nguyên Anh, công nghệ chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi đi cùng nguồn nhân lực có kỹ năng số và tư duy quản trị phục vụ, chuyển từ mô hình “xin – cho” sang “phục vụ – kiến tạo”.

Thứ ba là sự tham gia của người dân và doanh nghiệp. Đây là yếu tố then chốt tạo nên tính dân chủ, minh bạch và bao trùm của quản trị xã hội số. Các nền tảng như “Đà Nẵng Smart City”, “Hue-S” hay cổng dịch vụ công của TP Hồ Chí Minh đã mở rộng kênh tương tác hai chiều, cho phép người dân giám sát, phản hồi và đồng hành cùng chính quyền trong quá trình thực thi chính sách.

Chú thích ảnh
Người dân đến làm thủ tục tại Trung tâm phục vụ hành chính công của xã An Thành, Hải Phòng.

Dẫn kinh nghiệm quốc tế, GS.TS. Đặng Nguyên Anh cho rằng nhiều quốc gia đã thành công nhờ kết hợp hài hòa giữa thể chế đổi mới, công nghệ hiện đại và sự tham gia xã hội.

Hàn Quốc là ví dụ điển hình với việc ban hành Luật Chính phủ điện tử từ năm 2001, tạo khung pháp lý thống nhất cho chuyển đổi số. Nền tảng “e-People” cho phép người dân gửi kiến nghị, khiếu nại trực tuyến và được xử lý công khai với hàng triệu phản hồi mỗi năm.

Singapore xây dựng mô hình “Chính phủ kiến tạo”, trong đó dữ liệu mở, phối hợp liên ngành và hệ sinh thái số thông minh giúp nâng cao hiệu quả quản trị và chất lượng dịch vụ công.

Estonia nổi bật với nguyên tắc “số hóa mặc định”, cho phép người dân thực hiện hầu hết các giao dịch hành chính, từ nộp thuế, khám chữa bệnh đến bỏ phiếu, trên nền tảng số thống nhất.

Theo GS.TS. Đặng Nguyên Anh, những kinh nghiệm này cho thấy quản trị xã hội số không chỉ là câu chuyện công nghệ, mà là quá trình cải cách thể chế toàn diện, đặt con người vào trung tâm của phát triển.

Bên cạnh những cơ hội lớn, Việt Nam vẫn đối mặt với nhiều thách thức trong quản trị phát triển xã hội số. GS.TS. Đặng Nguyên Anh chỉ ra rằng tình trạng thiếu mô hình quản trị liên ngành trong không gian số khiến việc triển khai chính sách xã hội còn phân tán, đặc biệt trong các lĩnh vực y tế, giáo dục, an sinh xã hội.

Năng lực số của đội ngũ cán bộ, công chức chưa đồng đều; khoảng cách số giữa các vùng miền, nhóm xã hội vẫn lớn. Trong khi đó, các rủi ro về an ninh mạng, lộ lọt dữ liệu cá nhân và lừa đảo trực tuyến ngày càng gia tăng, làm suy giảm niềm tin của người dân vào môi trường số.

Định hướng giải pháp cho giai đoạn tới

Từ thực tiễn đó, GS.TS. Đặng Nguyên Anh đề xuất một số định hướng trọng tâm nhằm nâng cao hiệu quả quản trị phát triển xã hội trong kỷ nguyên số.

Trước hết, cần tổng kết, đánh giá toàn diện việc thực hiện Chương trình Chuyển đổi số quốc gia, xây dựng bộ chỉ số giám sát riêng cho lĩnh vực phát triển xã hội. Đồng thời, sớm xây dựng và ban hành Luật Chuyển đổi số nhằm hoàn thiện khung pháp lý về quản lý dữ liệu, chia sẻ thông tin và bảo vệ quyền riêng tư.

Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh huy động nguồn lực xã hội, thúc đẩy hợp tác công – tư trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, an sinh xã hội; khuyến khích phát triển doanh nghiệp công nghệ số xã hội. Phong trào “Bình dân học vụ số” cần được triển khai mạnh mẽ để phổ cập kỹ năng số cho người dân, nhất là nhóm yếu thế.

Theo GS.TS. Đặng Nguyên Anh, việc tăng cường hợp tác quốc tế, học hỏi kinh nghiệm từ các quốc gia tiên phong, song song với bảo đảm an ninh mạng và an toàn dữ liệu, sẽ là chìa khóa giúp Việt Nam xây dựng nền quản trị phát triển xã hội số hiện đại, nhân văn và bền vững.

Trong tiến trình đó, sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và người dân sẽ quyết định thành công của chuyển đổi số, góp phần đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên phát triển mới với nền tảng quản trị xã hội vững chắc.

XM/Báo Tin tức và Dân tộc

Dành cho bạn

Xây dựng cộng đồng KOL chuyên nghiệp, minh bạch trong kỷ nguyên số

Xây dựng cộng đồng KOL chuyên nghiệp, minh bạch trong kỷ nguyên số

Trên 1.000 người có ảnh hưởng (KOL) và nhà sáng tạo nội dung trên cả nước đã cùng gặp gỡ, trao đổi tại KOL Summit 2026. Không chỉ tạo không gian kết nối cộng đồng, KOL Summit 2026 còn hướng đến xây dựng những chuẩn mực cụ thể, giúp KOL nâng cao hiểu biết pháp luật, quản trị rủi ro và chuyển sức ảnh hưởng thành các giá trị tích cực, góp phần kiến tạo môi trường số an toàn, minh bạch và đáng tin cậy.
Nghề KOL bước vào giai đoạn lấy niềm tin làm thước đo

Nghề KOL bước vào giai đoạn lấy niềm tin làm thước đo

Theo Đại tá - Tiến sĩ Nguyễn Hồng Quân, Phó Cục trưởng Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, nghề KOL chỉ có giá trị bền vững khi được xây dựng trên nền tảng niềm tin, trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp. Trí tuệ nhân tạo tạo sinh và những yêu cầu mới của pháp luật đang đưa nghề KOL vào một bước chuyển quan trọng.
TP Hồ Chí Minh đề xuất cơ chế chấp nhận rủi ro để thúc đẩy đổi mới sáng tạo

TP Hồ Chí Minh đề xuất cơ chế chấp nhận rủi ro để thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Từ yêu cầu đổi mới cơ chế, chính sách theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW, TP Hồ Chí Minh đang đề xuất cách hỗ trợ mới cho nghiên cứu và đổi mới sáng tạo: không chỉ cấp kinh phí mà còn tạo dư địa để chấp nhận rủi ro khách quan, rút ngắn thủ tục và đưa sản phẩm nghiên cứu đến gần thị trường.
Ra mắt Giải thưởng Việt Nam Rồng Xanh: Kiến tạo những giá trị mới cho văn hóa, di sản

Ra mắt Giải thưởng Việt Nam Rồng Xanh: Kiến tạo những giá trị mới cho văn hóa, di sản

Chiều 4/9, “Giải thưởng Việt Nam Rồng Xanh - Viet Nam Rong Xanh Awards” chính thức được công bố tại Hà Nội, mở ra một không gian kết nối giữa Văn hóa - Di sản - Điểm đến - Đổi mới sáng tạo, đồng thời tôn vinh những tổ chức, doanh nghiệp, địa phương và cá nhân đang tạo ra những giá trị nổi bật cho văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên số.
Ra mắt ba sản phẩm chuyển đổi số phục vụ người dân

Ra mắt ba sản phẩm chuyển đổi số phục vụ người dân

Ngày 2/9, nhân kỷ niệm 81 năm Quốc khánh (2/9/1945 - 2/9/2026), Công an thành phố Hà Nội tổ chức ra mắt ba sản phẩm, giải pháp chuyển đổi số nhằm nâng cao hiệu quả bảo đảm an ninh, trật tự và chất lượng phục vụ người dân.