Để làm rõ cách kết nối các nguồn lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong triển khai Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị, phóng viên Báo Tin tức và Dân tộc đã có cuộc trao đổi với ông Trần Trọng Tuyên, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP Hồ Chí Minh.
Thưa ông, TP Hồ Chí Minh hiện có nhiều trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp công nghệ và một thị trường lớn. Theo ông, đâu là điều kiện để những nguồn lực này phối hợp hiệu quả?
Sau hợp nhất, TP Hồ Chí Minh có nguồn lực rất lớn từ các cơ sở giáo dục đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp, cùng thị trường hơn 14 triệu dân và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo có kết nối quốc tế. Đây là điều kiện thuận lợi, nhưng nguồn lực mạnh, lớn, đặt cạnh nhau chưa chắc đã kết hợp được với nhau. Nếu mỗi đơn vị chỉ hoạt động theo nhiệm vụ riêng, chúng ta khó phát huy sức mạnh chung.
Vì vậy, cần có sự điều phối để từng nguồn lực phát huy thế mạnh, đồng thời gắn kết với những nguồn lực khác nhằm phục vụ mục tiêu phát triển của thành phố. Theo tôi, việc kết nối cần được nhìn trên ba phương diện.
Thứ nhất là thể chế. Cơ chế, chính sách phải tạo điều kiện để trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và các tổ chức liên quan chủ động thực hiện công việc của mình, đồng thời có cơ sở để hợp tác. Thứ hai là cùng giải những bài toán lớn của TP Hồ Chí Minh, trong đó có yêu cầu phát triển kinh tế với tốc độ cao. Khi xác định được bài toán chung, các đơn vị mới có thể huy động năng lực nghiên cứu, công nghệ và nguồn lực triển khai vào cùng một mục tiêu. Thứ ba là hướng đến thị trường. Sản phẩm hình thành từ nghiên cứu và đổi mới sáng tạo cần đáp ứng nhu cầu trong nước, đồng thời có khả năng tiếp cận thị trường quốc tế.
Trong quá trình ấy, cơ quan nhà nước cần thực hiện vai trò điều phối, kiến tạo. Kiến tạo ở đây là tạo điều kiện để từng thành phần trong hệ thống đổi mới sáng tạo phát huy khả năng, kết nối với nhau và cùng tham gia giải quyết yêu cầu phát triển của thành phố. Chúng ta phải làm sao để sự phối hợp đó trở thành hoạt động thực chất.
Sau khoảng một năm vận hành trong không gian phát triển mới, ông nhìn nhận những chuyển biến nào về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của TP Hồ Chí Minh?
Thành phố đã triển khai nhiều hoạt động trên cơ sở các cơ chế đặc thù, nghị quyết của Hội đồng nhân dân, đề án và kế hoạch của UBND TP Hồ Chí Minh. Trong khoảng một năm qua, có thể nhìn nhận chuyển biến ở hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, hoạt động nghiên cứu và việc ứng dụng công nghệ số trong vận hành chính quyền địa phương hai cấp.
Về hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, TP Hồ Chí Minh đạt vị trí 98 trên bảng xếp hạng của StartupBlink, tăng từ vị trí 118 và vào nhóm 100 hệ sinh thái được xếp hạng cao nhất. Đây là một chỉ dấu cho thấy sự phát triển của hệ sinh thái. Theo tôi, điều cần quan tâm là chất lượng các dự án, khả năng tập trung vào công nghệ cao, công nghệ chiến lược và hình thành sản phẩm có giá trị.
Thành phố cũng đang thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu, xây dựng các trung tâm xuất sắc. Mục tiêu của những hoạt động này là phát triển năng lực nghiên cứu, tổ chức thực hiện các nhiệm vụ có yêu cầu cao hơn và tạo điều kiện để kết quả nghiên cứu được ứng dụng.
Ở lĩnh vực chuyển đổi số, công nghệ đã được đưa vào quá trình vận hành chính quyền địa phương hai cấp. Sau giai đoạn đưa hệ thống vào hoạt động và ổn định, việc khai thác hiệu quả các nền tảng đã hình thành là yêu cầu tiếp theo. Chuyển đổi số phải giúp cơ quan quản lý thực hiện nhiệm vụ tốt hơn, phục vụ người dân và doanh nghiệp thuận lợi hơn.
Những kết quả trên cho thấy Thành phố đã có nền tảng để phát triển. Bước tiếp theo là nâng chất lượng dự án đổi mới sáng tạo, đưa kết quả nghiên cứu vào ứng dụng và khai thác hiệu quả các hệ thống số. Hiệu quả của từng việc cần được đánh giá qua những vấn đề thực tế mà chúng giải quyết cho người dân, doanh nghiệp.
Để làm chủ công nghệ cao, công nghệ chiến lược, TP Hồ Chí Minh cần đặt trọng tâm vào chính sách nhân lực như thế nào, thưa ông?
Muốn làm chủ công nghệ chiến lược thì cuối cùng vẫn phải có con người làm chủ được công nghệ ấy. Chúng ta có thể đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị, phòng thí nghiệm, nhưng nếu thiếu đội ngũ có năng lực nghiên cứu, phát triển và tiếp tục hoàn thiện công nghệ thì khó đạt được mục tiêu. Vì vậy, chính sách nhân lực phải được xây dựng từ yêu cầu hình thành một đội ngũ đủ năng lực thực hiện những nhiệm vụ mà thành phố đặt ra.
Khi nói đến thu hút nhân lực chất lượng cao, chúng ta thường nghĩ đến tiền lương, thù lao. Đây là điều cần thiết, nhưng chưa đủ. Nhà khoa học còn cần một môi trường làm việc phù hợp, có điều kiện phát huy chuyên môn. Đặc biệt, phải có bài toán để họ giải quyết. Với chuyên gia, nhà khoa học hoặc người có tài năng đặc biệt, một nhiệm vụ đủ thách thức, gắn với nhu cầu phát triển của thành phố là điều rất quan trọng.
Bên cạnh đó là quyền chủ động trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Người được giao chủ trì cần có điều kiện quyết định về công việc chuyên môn trong khuôn khổ pháp luật. Chính sách cũng phải tính đến khả năng gắn bó lâu dài, để người được thu hút có thể tiếp tục nghiên cứu, phát triển đội ngũ và đóng góp cho cộng đồng.
Do đó, chính sách nhân lực cần bao quát nhiều khâu, từ tuyển dụng, công nhận đến thu hút và trọng dụng. Phạm vi xem xét không chỉ giới hạn ở cơ quan nhà nước mà còn có viện, trường, doanh nghiệp và các tổ chức ngoài công lập. Thành phố cần tìm được người phù hợp với từng nhiệm vụ, đồng thời tạo điều kiện để họ phối hợp với những người có chuyên môn khác.
Như ông vừa đề cập, cần giao cho nhà khoa học những bài toán đủ thách thức. Vậy TP Hồ Chí Minh cần tổ chức các nhiệm vụ nghiên cứu như thế nào để thu hút chuyên gia trong và ngoài nước cùng tham gia?
Một bài toán lớn không thể chỉ giao cho một cá nhân hoặc một nhóm nghiên cứu làm toàn bộ. Chúng ta cần tổ chức thành các chương trình lớn, trong đó có những cụm nhiệm vụ, chuỗi nhiệm vụ liên kết với nhau. Mỗi nhóm có thể thực hiện phần việc phù hợp với năng lực chuyên môn, nhưng kết quả cuối cùng phải cùng hướng đến việc giải quyết một yêu cầu phát triển của thành phố.
Cách tổ chức này đòi hỏi xác định bài toán đủ rõ: thành phố cần giải quyết vấn đề gì, doanh nghiệp có nhu cầu nào, sản phẩm dự kiến phục vụ ai và điều kiện để triển khai ra sao. Khi có mục tiêu chung, người chủ trì chương trình mới có cơ sở kết nối các nhóm nghiên cứu, các chuyên gia trong và ngoài nước, viện trường và doanh nghiệp.
Tôi cho rằng, việc trọng dụng nhà khoa học phải gắn với vai trò mà họ đảm nhận trong những chương trình như vậy. Bên cạnh cơ chế đãi ngộ, cần trao cho người có năng lực cơ hội chủ trì, kết nối đội ngũ và chủ động tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Bài toán phải đủ thách thức để thu hút họ, nhưng cũng phải xuất phát từ yêu cầu thực tế để kết quả có khả năng ứng dụng.
Doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong việc xác định nhu cầu của thị trường. Khi yêu cầu của doanh nghiệp được kết nối với năng lực nghiên cứu, chúng ta có thêm điều kiện để phát triển sản phẩm phù hợp. Nhà khoa học biết mình đang giải quyết vấn đề gì, còn doanh nghiệp có thể tham gia quá trình hoàn thiện, ứng dụng và đưa sản phẩm ra thị trường.
Cùng với việc kết nối nguồn lực và thu hút nhân tài, theo ông, thành phố cần đánh giá hiệu quả phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo bằng những kết quả nào?
Trước hết, thể chế phải theo kịp sự phát triển của công nghệ. Công nghệ thay đổi rất nhanh; nếu cơ chế, chính sách chậm điều chỉnh, chúng ta sẽ gặp khó khi đưa những hướng nghiên cứu, sản phẩm mới vào ứng dụng. Mong muốn của chúng tôi là thể chế có thể tạo điều kiện cho phát triển công nghệ, từng bước dự liệu những nhu cầu sẽ xuất hiện trong thời gian tới.
Tiếp theo là đưa tri thức từ trường đại học, viện nghiên cứu thành sản phẩm có giá trị và làm cho dữ liệu thực sự tham gia vào quá trình tạo ra giá trị. Đây là hai yêu cầu quan trọng nếu muốn khoa học, công nghệ đóng góp trực tiếp hơn cho phát triển kinh tế - xã hội.
Chúng ta có thể nhìn vào thứ hạng để biết TP Hồ Chí Minh đang ở vị trí nào trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Nhưng thứ hạng không cho biết thành phố sẽ đi được bao xa, cũng không tự trả lời được sự phát triển ấy có bền vững hay không. Để đánh giá, phải nhìn vào khả năng đưa tri thức vào thị trường thông qua sản phẩm khoa học và công nghệ.
Hiệu quả còn cần được thể hiện trong đời sống. Người dân có thấy việc tiếp cận dịch vụ thuận lợi hơn không? Doanh nghiệp có được rút ngắn thời gian thực hiện thủ tục hành chính, có điều kiện phát triển ý tưởng sáng tạo, hoàn thiện sản phẩm và đưa sản phẩm ra thị trường trong nước, quốc tế hay không? Khi trả lời được những câu hỏi đó bằng kết quả cụ thể, chúng ta mới thấy rõ việc kết nối nguồn lực, hoàn thiện chính sách và đầu tư cho khoa học, công nghệ đã đóng góp như thế nào cho TP Hồ Chí Minh.
Xin trân trọng cảm ơn ông!