TP Hồ Chí Minh kết nối nguồn lực khoa học phục vụ phát triển

TP Hồ Chí Minh có nhiều lợi thế về nghiên cứu, đào tạo và thị trường công nghệ. Để phát huy nguồn lực này, Thành phố cần kết nối cơ quan quản lý, viện trường và doanh nghiệp bằng những nhiệm vụ cụ thể, gắn nghiên cứu với nhu cầu phát triển và khả năng ứng dụng.

khoa-hoc-cong-nghe-tphcm.jpg
Trung tâm Khởi nghiệp sáng tạo TP Hồ Chí Minh (Sở Khoa học và Công nghệ TP Hồ Chí Minh) thường xuyên tổ chức triển lãm, kết nối chuyển giao công nghệ.

Xác định bài toán để tổ chức hợp tác

Nguồn lực khoa học, công nghệ của TP Hồ Chí Minh được mở rộng sau hợp nhất, với sự hiện diện của các trường đại học, viện nghiên cứu, cơ sở sản xuất và cộng đồng doanh nghiệp thuộc nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên, làm thế nào để các đơn vị phối hợp, cùng giải quyết những vấn đề của thành phố vẫn là yêu cầu đặt ra trong quá trình thực hiện Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Một nhiệm vụ nghiên cứu muốn đi vào thực tiễn cần xác định được nhu cầu, có dữ liệu phục vụ triển khai và có đơn vị tiếp nhận kết quả. Vì vậy, kết nối nguồn lực phải được cụ thể hóa từ khâu đặt bài toán, tổ chức nghiên cứu đến ứng dụng, với trách nhiệm và sự tham gia của từng bên.

Theo ông Trần Trọng Tuyên, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP Hồ Chí Minh, Thành phố có nguồn lực lớn từ các cơ sở giáo dục đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp, cùng thị trường rộng và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo có kết nối quốc tế. Để phát huy lợi thế này, cần có sự điều phối, giúp từng đơn vị phát huy năng lực và cùng hướng tới mục tiêu phát triển chung.

“Nguồn lực rất mạnh, rất lớn nhưng đặt cạnh nhau thì chưa chắc đã kết hợp được với nhau. Với nguồn lực lớn này thì phải kết hợp được với nhau, phải có sự điều phối”, ông Tuyên nhấn mạnh.

Ông Tuyên xác định ba phương diện cần gắn kết: thể chế tạo điều kiện cho từng nguồn lực phát huy thế mạnh và phối hợp; các đơn vị cùng giải quyết những bài toán lớn của Thành phố; sản phẩm, giải pháp hướng đến thị trường, trong đó có thị trường quốc tế. Cơ quan quản lý nhà nước vì vậy cần tăng cường vai trò kiến tạo, tổ chức điều phối để các thành phần trong hệ thống đổi mới sáng tạo có điều kiện hợp tác.

Từ góc độ chuyển đổi số, ông Nguyễn Thanh Hoà, Phó Giám đốc Trung tâm Chuyển đổi số TP Hồ Chí Minh, phân tích mối quan hệ giữa chính quyền, nhà trường và doanh nghiệp. Cơ quan quản lý xây dựng khuôn khổ chính sách; trường đại học nghiên cứu, tạo ra tri thức và đào tạo nhân lực; doanh nghiệp ứng dụng tri thức vào thực tế. Qua quá trình ứng dụng, các bên mới nhận diện rõ giải pháp phù hợp ở đâu, cần điều chỉnh nội dung gì và có khả năng phát triển như thế nào.

Theo ông Hoà, Trung tâm Chuyển đổi số tham gia vào sự kết nối này thông qua hạ tầng số, an toàn thông tin, ứng dụng số và dữ liệu số. Dữ liệu từ thực tiễn có thể hỗ trợ cơ quan quản lý xây dựng chính sách, đồng thời cung cấp đầu vào để các viện, trường nghiên cứu những vấn đề thành phố cần giải quyết.

Theo ông Nguyễn Thanh Hoà, dữ liệu số góp phần kết nối chính quyền, nhà trường và doanh nghiệp, hỗ trợ nghiên cứu và ứng dụng công nghệ vào thực tiễn.
Theo ông Nguyễn Thanh Hoà, dữ liệu số góp phần kết nối chính quyền, nhà trường và doanh nghiệp, hỗ trợ nghiên cứu và ứng dụng công nghệ vào thực tiễn.

Ông Hoà dẫn việc tiếp nhận phản ánh, kiến nghị của người dân qua Cổng 1022 như một nguồn thông tin phục vụ xác định nhu cầu từ địa bàn và các lĩnh vực. Khi những vấn đề được nhận diện cụ thể, cơ quan chuyên môn có thêm cơ sở tham mưu cho lãnh đạo Thành phố, đồng thời xác định yêu cầu cần huy động chuyên gia, nhà khoa học tham gia.

Sự phối hợp cũng đòi hỏi dữ liệu giữa các ngành được chuẩn hóa, kết nối. Theo ông Hoà, một vấn đề như ngập nước có liên quan đến đất đai, xây dựng, môi trường và nhiều lĩnh vực khác. Nếu thông tin được quản lý riêng rẽ, việc đánh giá sẽ khó đầy đủ. Dữ liệu dùng chung giúp các bên nhìn rõ hơn mối liên hệ giữa những yếu tố tác động, từ đó có cơ sở đề xuất giải pháp.

Như vậy, đặt hàng nghiên cứu cần đi cùng việc xác định yêu cầu thực tế và điều kiện triển khai. Bên có nhu cầu phải làm rõ vấn đề cần giải quyết; bên nghiên cứu cần tiếp cận thông tin, dữ liệu liên quan. Đây là cơ sở để hình thành sự hợp tác có mục tiêu cụ thể, thay vì chỉ dừng ở định hướng kết nối.

Gắn nghiên cứu với ứng dụng và thị trường

Ở phía cơ sở đào tạo, PGS.TS Phạm Tấn Thi, Trưởng phòng Khoa học và Công nghệ Trường Đại học Bách khoa (Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh), cho rằng yêu cầu phát triển mới đặt ra sự thay đổi trong đào tạo, nghiên cứu và quản trị đại học. Đào tạo cần hướng đến năng lực của người học, đáp ứng nhu cầu thị trường; nghiên cứu cần xuất phát từ những vấn đề doanh nghiệp, cơ quan nhà nước đang cần giải quyết.

“Nghiên cứu phải gắn liền với những bài toán đặt hàng từ phía doanh nghiệp, từ phía Nhà nước”, PGS.TS Phạm Tấn Thi nêu quan điểm. Theo ông, cơ quan quản lý khoa học, công nghệ và đơn vị thực hiện chuyển đổi số có vai trò quan trọng trong xác định những bài toán lớn, làm cơ sở để một trường hoặc nhiều trường cùng tham gia nghiên cứu.

psg-ts-thi.jpg
PGS.TS Phạm Tấn Thi (thứ hai từ trái sang) giới thiệu với khách tham quan về phòng thí nghiệm thiết bị bay không người lái (UAV) mới được đầu tư tại Trường Đại học Bách khoa (Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh). Ảnh

Ông Thi cho biết Trường Đại học Bách khoa đang thay đổi mô hình quản trị bên trong để đáp ứng tốt hơn yêu cầu của Thành phố, doanh nghiệp, xã hội và người học. Quá trình này gắn với việc tổ chức nghiên cứu theo nhu cầu thực tiễn, phát huy chuyên môn của từng nhóm và mở rộng khả năng phối hợp.

Một điều kiện được ông Thi nhấn mạnh là khả năng tiếp cận dữ liệu, bao gồm kết quả những nghiên cứu đã thực hiện. Với các vấn đề như ngập nước, dự báo thiên tai, nhà khoa học có thể cần phối hợp kiến thức về môi trường, xây dựng, trí tuệ nhân tạo, cơ khí, điện tử và hệ thống cảm biến. Dữ liệu nền tảng giúp các nhóm kế thừa kết quả, cùng phát triển giải pháp.

Để sự hợp tác phát huy hiệu quả, ông Thi đề cập năng lực nghiên cứu theo mô hình “hình chữ T”: mỗi người có chuyên môn sâu trong một lĩnh vực, đồng thời có khả năng kết nối với chuyên gia thuộc lĩnh vực khác. Sự phối hợp cần dựa trên nhu cầu, định hướng chung và được hỗ trợ bởi chính sách, nền tảng số.

Theo ông Trần Trọng Tuyên, việc tổ chức những chương trình lớn với các cụm nhiệm vụ và chuỗi nhiệm vụ liên kết có thể tạo điều kiện tập hợp nhà khoa học trong và ngoài nước. Những bài toán cần đủ sức thu hút chuyên gia, đồng thời xuất phát từ yêu cầu phát triển của Thành phố và nhu cầu doanh nghiệp. Cùng với môi trường làm việc, đội ngũ thực hiện cần có quyền chủ động trong khuôn khổ pháp luật để tổ chức công việc.

Hiệu quả của sự kết nối cuối cùng phải thể hiện ở giá trị ứng dụng. Ông Tuyên cho rằng, thứ hạng về đổi mới sáng tạo giúp thành phố nhận diện vị trí, còn khả năng phát triển bền vững cần được đánh giá qua việc đưa tri thức thành sản phẩm, tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp.

ong-tuyen-24.png

Từ phía nhà khoa học, PGS.TS Phạm Tấn Thi lưu ý cần tính đến độ trễ từ nghiên cứu đến ứng dụng. Có kết quả có thể chuyển giao sớm, nhưng cũng có nghiên cứu cần nhiều năm mới phát huy giá trị. Vì vậy, bên cạnh yêu cầu về sản phẩm và hiệu quả, cần sự đồng hành lâu dài của cơ quan quản lý, doanh nghiệp. Với TP Hồ Chí Minh, đây là điều kiện để duy trì hợp tác, tích lũy năng lực nghiên cứu và từng bước giải quyết những vấn đề phát triển bằng khoa học, công nghệ.

Lưu Niệm/Báo Tin tức và Dân tộc

Dành cho bạn

Mở rộng thanh toán, tăng dư địa chi tiêu

Mở rộng thanh toán, tăng dư địa chi tiêu

Thanh toán QR xuyên biên giới đang dần trở thành một phần trong hành trình du lịch của khách quốc tế. Khi du khách có thể sử dụng ứng dụng thanh toán quen thuộc tại Việt Nam, các điểm bán trong nước có thêm cơ hội tiếp cận dòng chi tiêu.

Dữ liệu tin cậy là nền móng để trí tuệ nhân tạo làm việc

Dữ liệu tin cậy là nền móng để trí tuệ nhân tạo làm việc

Để trí tuệ nhân tạo (AI) có thể đi từ thử nghiệm đến ứng dụng thực tế trong ngành Tài chính, dữ liệu tin cậy và cơ chế quản trị rõ ràng được xác định là những điều kiện nền tảng, bảo đảm AI được sử dụng đúng phạm vi, minh bạch và có kiểm soát.