Với tinh thần trách nhiệm, sự nỗ lực không ngừng, ngành Khí tượng Thủy văn Việt Nam đã tạo dựng nhiều dấu mốc quan trọng, từng bước hiện đại hóa, nâng cao chất lượng dự báo, cảnh báo, qua đó, khí tượng thủy văn ngày càng khẳng định vai trò là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần chủ động phòng, chống thiên tai, ứng phó biến đổi khí hậu; đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng xanh, phục vụ phát triển bền vững đất nước.
Nhân dịp kỷ niệm 81 năm ngày thành lập ngành, Phó Cục trưởng điều hành Cục Khí tượng Thủy văn, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Tiến sĩ Hoàng Đức Cường đã chia sẻ với phóng viên TTXVN về những đóng góp cũng như định hướng của ngành trong giai đoạn mới.
Thưa ông, qua 81 năm hình thành và phát triển, những dấu ấn nổi bật của ngành là gì?
Ngay sau khi thành lập Nước, ngày 3/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh số 41 đưa Sở Thiên văn và Đài Thiên văn Phủ Liễn về trực thuộc Bộ Giao thông Công chính. Sau cơ quan đổi thành Nha Khí tượng - Tổ chức tiền thân của Cục Khí tượng Thủy văn ngày nay. Trải qua 81 năm xây dựng và phát triển, ngành Khí tượng Thủy văn đã không ngừng vươn lên đóng góp sức mình vào sự nghiệp cách mạng chung của cả nước, phục vụ ngày càng tốt hơn, có hiệu quả hơn đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Những dấu ấn nổi bật được thể hiện bằng hệ thống pháp luật về khí tượng thủy văn ngày càng hoàn thiện. Luật Khí tượng Thủy văn, các nghị định, thông tư, quy chuẩn kỹ thuật và tiêu chuẩn ngành. Đây là nền tảng pháp lý quan trọng để hoạt động khí tượng thủy văn ngày càng đồng bộ, chặt chẽ.
Ngành đã xây dựng mạng lưới 2.850 trạm khí tượng thủy văn quốc gia rộng khắp trên đất liền, hải đảo và vùng biển của Việt Nam với các công nghệ tiên tiến, hiện đại. Mạng lưới ra đa thời tiết cơ bản bao phủ toàn quốc, đưa ngành Khí tượng Thủy văn tiệm cận dần với các nước trong khu vực và thế giới.
Cùng với hệ thống mạng lưới quan trắc, hiện có khoảng 1.500 quan trắc viên có mặt trên khắp mọi miền của Tổ quốc, từ vùng sâu, vùng xa đến núi cao và hải đảo đã không ngại khó khăn gian khổ thầm lặng ngày đêm thu thập các số liệu điều tra cơ bản về khí tượng thủy văn, bảo đảm thực hiện tốt nhiệm vụ quan trắc, dự báo khí tượng thủy văn phục vụ công tác chỉ đạo phòng, chống thiên tai phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội bảo đảm an ninh, quốc phòng của đất nước.
Công tác cảnh báo, dự báo thiên tai ngày càng chính xác, kịp thời góp phần bảo vệ an toàn tính mạng, tài sản của nhân dân, giảm nhẹ thiệt hại do các tai biến thiên nhiên gây ra. Độ tin cậy của bản tin dự báo cảnh báo khí tượng thủy văn ngày càng được nâng cao, dự báo một số loại hình thiên tai có độ tin cậy tới 80-90 %, thuộc nhóm các nước dẫn đầu Đông Nam Á và dần tiếp cận trình độ các nước tiên tiến ở Châu Á.
Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia và Kết luận số 75-KL/TW, ngày 28/7/2026 - Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới được ban hành, ngành Khí tượng Thủy văn đã thực hiện những chủ trương trên như thế nào, thưa ông?
Thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngành đã thực hiện việc hiện đại hóa hệ thống trạm quan trắc khí tượng thủy văn với tỉ lệ tự động hóa đo mưa đạt 100%, dông sét đạt 100%; quan trắc khí tượng đạt 65%, đo mưa đạt 100%, dông sét đạt 100%, thủy văn đạt 69% và hải văn đạt 74%, cảnh báo lũ đạt khoảng 60-70%; dự báo hạn ngắn đạt từ 82-85%; hạn vừa đạt 70-80%; hạn dài đạt 65-70%. Số liệu quan trắc tại các trạm thuộc hệ thống khí tượng thủy văn quốc gia được thu nhận sát theo thời gian thực.
Cùng với đó là việc xây dựng Trung tâm dữ liệu (Data center) đạt gần tới tiêu chuẩn quốc tế Tier 3 đảm bảo hoạt động ổn định hạ tầng công nghệ thông tin. Xây dựng được hệ thống hội thảo trực tuyến từ trung ương đến 3 Đài Khí tượng Thủy văn Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ và 31 Đài Khí tượng Thủy văn tỉnh, thành phố nhằm đảm bảo công tác hội thảo trực tuyến nghiệp vụ dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn thông suốt nhất là hội thảo khi có thiên tai nguy hiểm xảy ra như bão, lũ…
Ngành phát triển và hình thành một mô hình hoạt động nghiệp vụ khí tượng thủy văn tập trung, thống nhất trong toàn hệ thống. Theo đó, toàn bộ dữ liệu khí tượng thủy văn trong và ngoài nước được tích hợp, tổ chức xử lý, lưu trữ, khai thác và cung cấp theo hướng tập trung, đồng bộ. Dữ liệu được chia sẻ đến cấp trên và các đơn vị cấp trên phục vụ công tác điều hành, chỉ đạo về phòng chống thiên tai như Văn phòng Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự Quốc gia, Cục Quản lý đê điều và Phòng chống thiên tai, ...
Ngành thực hiện quản trị và hoàn thiện quy trình vận hành hệ thống thiết bị tính toán hiệu năng cao Cray XC40-AC; vận hành và đảm bảo hoạt động hệ thống các phần mềm nghiệp vụ; hệ thống CDH (hệ thống quản lý, lưu trữ và xử lý dữ liệu lớn); ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý, khai thác, chia sẻ thông tin, dữ liệu khí tượng thủy văn; mô hình dự báo số trị và các công nghệ tiên tiến. Đầu tư mở rộng các trạm thông tin vệ tinh mặt đất, thiết bị thông tin lưu động; vận hành hiệu quả hệ thống cảnh báo đa thiên tai, kết hợp với hệ thống cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia.
Đối với Kết luận số 75-KL/TW, trên thực tế, hiện ngành đã và đang đóng góp tích cực vào công tác phòng chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu. Cụ thể, việc dự báo khí tượng thủy văn chuyên đề phục vụ cho việc quản lý, vận hành các thủy điện lớn thuộc 11 Quy trình vận hành liên hồ chứa trên toàn quốc đã và đang được ngành thực hiện tốt, góp phần đáng kể vào việc nâng cao hiệu quả sử dụng dung tích hồ chứa trong việc phát điện, cung cấp nước cho nông nghiệp và phòng chống lụt.
Các dự báo thời tiết biển phục vụ cho các hoạt động trên biển như: đánh bắt hải sản, giao thông vận tải, xây dựng, quốc phòng, đặc biệt là khai thác dầu khí tiếp tục phát triển với chất lượng ngày càng cao, thu hút được sự tín nhiệm của người sử dụng - kể cả các Tập đoàn sản xuất, kinh doanh nước ngoài đang có hoạt động kinh tế trên Biển Đông.
Nhằm nâng cao hiệu quả phục vụ sản xuất nông nghiệp, ngành đã xây dựng và duy trì hệ thống bản tin thời tiết nông vụ định kỳ theo tuần, tháng và 6 tháng, phục vụ cụ thể cho 7 khu vực sản xuất nông nghiệp trọng điểm trên cả nước. Nội dung các bản tin này không chỉ cung cấp thông tin khí tượng thủy văn chuyên sâu (như tổng tích ôn hữu hiệu, lượng mưa hữu hiệu, diễn biến hạn hán, ẩm ướt, thủy văn) mà còn đưa ra nhận định về mức độ thuận lợi của thời tiết đối với từng loại cây trồng, cùng với các khuyến nghị kỹ thuật canh tác cụ thể.
Ngành đã cải tiến, thay đổi, điều chỉnh cả về hình thức và nội dung các bản tin dự báo, cảnh báo theo hướng rõ hơn, chi tiết hơn về ảnh hưởng của bão, mưa, lũ, cụ thể như: Bản đồ dự báo bão dễ tham khảo hơn; đã nhận định rõ hơn về diễn biến mưa, vùng và thời gian có gió mạnh, sóng lớn; các bản tin dự báo bão, lũ được phát sớm hơn từ 30 phút đến 1 giờ so với trước đây và chuyển ngay đến các Đài Khí tượng Thủy văn khu vực, Đài Khí tượng Thủy văn tỉnh, thành phố để kịp thời phục vụ địa phương; đưa thông tin dự báo khí tượng thủy văn lên các trang mạng của Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn Quốc gia, các phương tiện thông tin đại chúng ở Trung ương, địa phương và các cơ quan phòng thủ dân sự các cấp để góp phần nâng cao hiệu quả phòng chống thiên tai, ứng phó biến đổi khí hậu.
Các bản tin dự báo, cảnh báo cũng đã được đưa vào cấp độ rủi ro thiên tai, qua đó nâng cao hiệu quả phục vụ, và từng bước tiến tới dự báo dựa trên tác động, cảnh báo dựa trên rủi ro. Các nội dung này đã cập nhật, bổ sung kịp thời, đầy đủ nên được các cấp chính quyền ở Trung ương và địa phương ghi nhận, đánh giá cao.
Để chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu được dự báo với diễn biến ngày càng cực đoan, phức tạp, ngành Khí tượng Thủy văn Việt Nam sẽ tập trung vào những nhiệm vụ trọng tâm gì, thưa ông?
Nhiệm vụ của ngành không chỉ dừng lại ở việc dự báo, cảnh báo thiên tai nhanh, kịp thời, hiệu quả mà thông tin khí tượng thủy văn được cung cấp phải phục vụ thiết thực sự phát triển kinh tế – xã hội, đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng xanh và phát triển bền vững của đất nước.
Trong bối cảnh mới, "Sứ mệnh" của ngành là phải chuyển mình mạnh mẽ từ ứng phó bị động sang quản trị rủi ro chủ động; tiên phong ứng dụng công nghệ, dữ liệu để cảnh báo sớm, từ xa. Theo đó, ngành tiếp tục hoàn thiện hệ thống mạng lưới trạm khí tượng thủy văn quốc gia, giám sát biến đổi khí hậu theo hướng tự động hóa, đồng bộ, hiện đại, tích hợp đa mục tiêu, ưu tiên phát triển tại các khu vực trên biển, ven biển, khu vực biên giới, lưu vực sông xuyên biên giới, khu vực còn thưa trạm, khu vực thường xuyên xảy ra thiên tai khí tượng thủy văn và chịu sự tác động của biến đổi khí hậu...
Ngành tăng cường số lượng trạm đo mặn và tần suất đo mặn, trạm đo lưu lượng và đo hàm lượng phù sa; tăng cường đo đạc điều tra khảo sát, xói lở, bồi lấp lòng sông cho khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và các khu vực xói lở, bồi lấp do ảnh hưởng của thiên tai. Tăng cường, bổ sung trạm Radar biển để từng bước hoàn thiện mạng lưới quan trắc, giám sát sóng và dòng chảy biển; xây dựng mạng lưới quan trắc hải văn bằng thiết bị phao cố định; điều tra, khảo sát định kỳ yếu tố hải văn ứng dụng công nghệ hiện đại như phao trôi, AUV (robot ngầm). Nghiên cứu, phát triển hệ thống giám sát, quản lý và đánh giá hoạt động quan trắc khí tượng thủy văn hiện đại, theo hướng tự động; nâng cấp hệ thống phân tích thí nghiệm môi trường không khí và môi trường nước...
Đồng thời ngành xây dựng các phương tiện, nền tảng công nghệ tạo điều kiện thuận lợi cho các cấp chính quyền và người dân tiếp cận được thông tin khí tượng thủy văn, đặc biệt là ở miền núi, ngư dân ven biển, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và các đối tượng đặc thù khác; xây dựng hệ thống truyền thông tác động của thiên tai, rủi ro thiên tai khí tượng thủy văn đối với các hoạt động kinh tế - xã hội, đời sống dân sinh.
Tăng cường phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương và lực lượng chuyên trách và chuyên ngành trong phòng thủ dân sự để triển khai các kịch bản ứng phó thiên tai sát với thực tiễn…
Để đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ trong kỷ nguyên mới, ngành chú trọng phát triển nguồn nhân lực, trong đó hướng tới việc tham mưu, thực hiện chế độ ưu đãi cho lực lượng làm công tác khí tượng thủy văn, nhất là ở những vùng khó khăn; thu hút, đãi ngộ, tuyển dụng nguồn nhân lực chất lượng cao; chính sách xứng đáng để khuyến khích người có trình độ chuyên môn cao làm việc tại cơ quan khí tượng thủy văn; xây dựng chính sách học bổng thỏa đáng để đào tạo nguồn nhân lực khí tượng thủy văn tại các nước có trình độ khoa học công nghệ tiên tiến; xây dựng chính sách thu hút, đãi ngộ đặc thù để thuê chuyên gia, nhà khoa học hàng đầu thế giới về khí tượng thủy văn làm việc cho Việt Nam.
Ngành tiếp tục đổi mới nội dung, chương trình và hình thức đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa và chuyển đổi số trong lĩnh vực khí tượng thủy văn. Lồng ghép các nội dung đào tạo, giáo dục kiến thức cơ bản về hoạt động khí tượng thủy văn phục vụ phát triển bền vững vào chương trình giáo dục phổ thông các cấp và chương trình đào tạo, bồi dưỡng quản lý nhà nước các ngạch bậc đối với cán bộ, công chức, viên chức; chú trọng đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao năng lực, chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng lao động cho đội ngũ cán bộ ngành Khí tượng Thủy văn Việt Nam.
Xin trân trọng cảm ơn ông!.