Hạt gạo phát thải thấp - Bài 1: Từ sản lượng đến giá trị

Đồng bằng sông Cửu Long đang chuyển đổi sản xuất lúa theo hướng nâng chất lượng và giảm phát thải. Để duy trì và mở rộng cách làm mới, ngành nông nghiệp cần tháo gỡ nút thắt về công nghệ, vốn và thị trường carbon, đồng thời bảo đảm lợi ích lâu dài cho người trồng lúa.

baotintuc_tr_mot-trieu-hecta-lua-271026.jpg
Nông dân Đồng bằng sông Cửu Long ứng dụng cơ giới hóa trong sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp.

Bài 1: Từ sản lượng đến giá trị

Đồng bằng sông Cửu Long đang thay đổi cách sản xuất lúa để giảm chi phí và phát thải, đồng thời nâng thu nhập cho nông dân. Kết quả từ các mô hình cho thấy hướng chuyển đổi này có hiệu quả, nhưng việc nâng giá trị hạt gạo còn cần chứng nhận và thị trường tiêu thụ.

Giảm chi phí để nông dân tăng thu nhập

Lượng giống gieo sạ giảm, nông dân bớt sử dụng phân bón hóa học và giảm số lần phun thuốc bảo vệ thực vật nhưng năng suất lúa vẫn duy trì, thậm chí tăng so với cách làm thông thường. Những kết quả từ các mô hình sản xuất lúa chất lượng cao và phát thải thấp tại Đồng bằng sông Cửu Long đang cho thấy người trồng lúa có thể cải thiện thu nhập thông qua điều chỉnh kỹ thuật canh tác và sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực trên đồng ruộng.

Trong điều kiện biến đổi khí hậu và suy giảm nguồn nước ngọt, hiệu quả ấy càng có ý nghĩa đối với việc duy trì sản xuất lâu dài. Hiện nông dân đã nhìn thấy lợi ích từ việc giảm lượng giống, phân bón và thuốc bảo vệ thực vật và thay đổi tập quán đã gắn bó nhiều năm. Với ngành lúa gạo, đây cũng là cơ sở để chuyển trọng tâm từ gia tăng sản lượng sang nâng chất lượng và giá trị sản phẩm.

Theo báo cáo của Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, đến tháng 8/2026, khoảng 420.000 ha tại Đồng bằng sông Cửu Long đã áp dụng một phần hoặc toàn bộ quy trình kỹ thuật canh tác giảm phát thải, tương đương 89,8% mục tiêu năm 2026. Trong đó, diện tích áp dụng trọn gói quy trình đạt 67.000 ha với các yêu cầu đồng bộ từ lựa chọn giống, sử dụng phân bón đến quản lý nước.

Từ 7 mô hình điểm với 302 ha năm 2024, toàn vùng đã phát triển hơn 376 mô hình liên kết khép kín đến vụ hè thu năm 2026. Tại những cánh đồng ở An Giang và Đồng Tháp, nông dân từng bước áp dụng kỹ thuật gieo sạ chính xác kết hợp vùi phân thay cho cách gieo sạ dày trước đây. Quá trình chuyển đổi vì vậy không chỉ thể hiện qua diện tích tham gia mà còn ở cách người sản xuất điều chỉnh từng khâu canh tác.

Bà Nguyễn Thị Thu Hương, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cho biết số liệu thực địa ghi nhận lượng giống gieo sạ giảm 30 - 50%, lượng phân bón hóa học giảm 20 - 30%. Cùng với việc tiết giảm vật tư đầu vào, nông dân giảm được 2 - 3 lần phun thuốc bảo vệ thực vật mỗi vụ mà vẫn bảo đảm hiệu quả sản xuất.

“Điều quan trọng nhất là năng suất lúa vẫn giữ vững, thậm chí tăng 5 - 12% so với canh tác thông thường, giúp lợi nhuận của bà con nông dân tăng thêm từ 1,5 - 9,3 triệu đồng mỗi hecta trong một vụ sản xuất. Về mặt môi trường, lượng phát thải khí nhà kính đo đếm được đã giảm trung bình từ 3 - 4 tấn CO2 tương đương trên mỗi hecta”, bà Hương cho biết.

Kết quả này cho thấy giảm lượng vật tư đầu vào không đồng nghĩa với giảm năng suất nếu nông dân áp dụng quy trình phù hợp. Khoản lợi nhuận tăng thêm từ mỗi vụ lúa cũng tạo cơ sở kinh tế để người sản xuất cân nhắc thay đổi tập quán. Thay vì chỉ tính lượng lúa thu hoạch, nông dân có thêm căn cứ đánh giá hiệu quả qua số tiền đầu tư và phần thu nhập còn lại sau khi trừ chi phí.

baotintuc_tr_mot-trieu-hecta-lua-5762.jpg
Kỹ thuật gieo sạ chính xác kết hợp vùi phân giúp nông dân giảm lượng vật tư đầu vào.

Tại các mô hình điểm trong vụ đông xuân, tỷ lệ cơ giới hóa khâu làm đất và thu hoạch đạt gần 100%. Tỷ lệ thu gom rơm khỏi đồng ruộng đạt 50 - 70%, tạo điều kiện tận dụng phụ phẩm cho sản xuất thay vì đốt bỏ. Việc xử lý rơm rạ vì thế từng bước trở thành một phần của quy trình canh tác, gắn sản xuất lúa với sử dụng hiệu quả nguồn nguyên liệu sau thu hoạch.

Về nguồn vốn, chương trình tín dụng chuyên biệt của Ngân hàng Nhà nước dành cho chuỗi liên kết sản xuất và tiêu thụ lúa gạo đã giải ngân hơn 4.000 tỷ đồng. Nguồn lực này hỗ trợ hợp tác xã và doanh nghiệp mở rộng vùng nguyên liệu, đồng thời tổ chức liên kết để đưa quy trình kỹ thuật vào sản xuất trên quy mô lớn hơn.

Các kết quả trên nằm trong quá trình thực hiện Đề án “Phát triển bền vững một triệu hecta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 1490/QĐ-TTg. Đề án đặt việc thay đổi kỹ thuật canh tác trong mối liên hệ với tổ chức lại sản xuất và phát triển chuỗi giá trị lúa gạo.

Ông Nguyễn Hoàng Hiệp, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhấn mạnh: “Trong bối cảnh biến đổi khí hậu hiện nay, an ninh lương thực không thể chỉ dựa vào việc gia tăng sản lượng. Ngành nông nghiệp cần những hệ thống sản xuất tạo ra giá trị cao hơn, sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn, giảm thiểu tác động môi trường và đảm bảo sinh kế lâu dài cho người trồng lúa”.

Theo Thứ trưởng, Việt Nam cần chuyển từ lợi thế về khối lượng sang chất lượng và hiệu quả, đồng thời xây dựng uy tín thương hiệu để nâng sức cạnh tranh dài hạn. Với cách tiếp cận này, kết quả sản xuất cần thể hiện qua thu nhập của nông dân và hiệu quả sử dụng tài nguyên bên cạnh sản lượng thu hoạch.

Giảm đầu vào, tăng lợi nhuận

Theo số liệu thực địa do bà Nguyễn Thị Thu Hương, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật cung cấp, các mô hình canh tác giảm phát thải ghi nhận những kết quả tích cực:

Giống gieo sạ

▼ 30 - 50%

Lượng giống gieo sạ được cắt giảm hiệu quả.

Phân bón hóa học

▼ 20 - 30%

Lượng phân bón hóa học sử dụng giảm rõ rệt.

Thuốc BVTV

▼ 2 - 3 lần

Số lần phun thuốc bảo vệ thực vật giảm mỗi vụ.

Năng suất

▲ 5 - 12%

Duy trì hoặc tăng so với phương thức canh tác thông thường.

Lợi nhuận

▲ 1,5 - 9,3 triệu

Mức lợi nhuận tăng thêm (VNĐ) tính trên mỗi ha/vụ.

Phát thải KNK

▼ 3 - 4 tấn

Khí nhà kính (CO₂ tương đương) giảm trung bình mỗi ha.

Đưa kết quả giảm phát thải thành giá trị thương mại

Cùng với thay đổi trên đồng ruộng, ngành lúa gạo đang từng bước xây dựng cơ sở nhận diện sản phẩm giảm phát thải trên thị trường. Nhãn hiệu chứng nhận “Gạo Việt xanh phát thải thấp” đã được Cục Sở hữu trí tuệ cấp văn bằng bảo hộ vào tháng 9/2026, tạo cơ sở pháp lý để phát triển sản phẩm gắn với quy trình sản xuất có kiểm chứng.

Ông Bùi Bá Bổng, nguyên Chủ tịch Hiệp hội ngành hàng lúa gạo Việt Nam, cho rằng chứng nhận là điều kiện quan trọng để kết nối quá trình sản xuất với giá trị thương mại. Nỗ lực thay đổi cách canh tác cần thể hiện trên sản phẩm cuối cùng để người mua có căn cứ nhận diện và đánh giá. “Chúng ta làm ruộng tạo ra hạt lúa nhưng sản phẩm thương mại đến tay người tiêu dùng cuối cùng là hạt gạo. Hạt gạo ấy muốn bán được giá cao và gia tăng uy tín thì bắt buộc phải có chứng nhận độc lập khẳng định đã sản xuất theo quy trình giảm phát thải”, ông Bổng chia sẻ.

mot-trieu-hecta-lua-271026.png
Các sản phẩm gạo trưng bày thuộc chuỗi liên kết của Dự án Chuyển đổi chuỗi giá trị lúa gạo ứng phó với biến đổi khí hậu (TRVC) tại An Giang và Đồng Tháp. Ảnh: TRVC

Theo ông, việc bảo hộ nhãn hiệu tạo cơ sở pháp lý và kỹ thuật để sản phẩm tiếp cận các phân khúc thị trường cao cấp, đồng thời chuẩn bị cho khả năng thương mại hóa tín chỉ carbon. Điều này đặt ra yêu cầu gắn việc thực hiện quy trình tại đồng ruộng với kiểm chứng kết quả, qua đó xây dựng niềm tin của khách hàng đối với sản phẩm mang nhãn hiệu giảm phát thải.

Năm 2025, những lô gạo đầu tiên mang nhãn hiệu “Gạo Việt xanh phát thải thấp” của doanh nghiệp tham gia đề án đã xuất khẩu sang Nhật Bản. Các hợp đồng xuất khẩu sau đó mở rộng sang Australia, Singapore, Malaysia, Hoa Kỳ và các nước thuộc Liên minh châu Âu. Tại thị trường trong nước, sản phẩm cũng đã xuất hiện ở các hệ thống bán lẻ như Co.opmart và AEON Mall.

Những bước tiếp cận thị trường này mở thêm hướng tiêu thụ cho sản phẩm từ các vùng nguyên liệu tham gia chuyển đổi. Nếu giảm chi phí tạo lợi ích ngay trong quá trình canh tác thì chứng nhận và liên kết tiêu thụ là những điều kiện để tiếp tục nâng giá trị hạt gạo sau thu hoạch. Hai khâu này cần gắn với nhau để nông dân có cơ sở duy trì phương thức sản xuất mới.

Ông Vinod Ahuja, Trưởng đại diện Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO) tại Việt Nam, đánh giá: “Đề án một triệu hecta lúa chất lượng cao và phát thải thấp tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long là một sáng kiến mang tầm nhìn chiến lược. Sáng kiến này chứng minh cho thế giới thấy rằng việc chuyển đổi nông nghiệp theo hướng bền vững, giảm phát thải khí nhà kính nhưng vẫn bảo đảm sinh kế và an ninh lương thực là điều hoàn toàn khả thi”.

Bà Kate Wallace, Tổng Lãnh sự Australia tại TP Hồ Chí Minh, cho biết Australia cam kết tiếp tục hỗ trợ kỹ thuật và tài chính để thúc đẩy chuỗi giá trị lúa gạo có khả năng chống chịu trước biến đổi khí hậu. Sự hỗ trợ này hướng đến giúp nông dân hưởng lợi từ quá trình chuyển đổi, đồng thời nâng chất lượng và tính bền vững của sản xuất.

baotintuc_tr_mot-trieu-hec-ta-lua-291026-b24.jpg
Ông Vinod Ahuja, Trưởng đại diện Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO) tại Việt Nam, trả lời phỏng vấn báo chí.

Từ kết quả triển khai, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang hoàn tất hồ sơ trình Chính phủ sửa đổi Quyết định 1490/QĐ-TTg, đề xuất mở rộng phạm vi đề án lên khoảng 1,65 triệu ha lúa chuyên canh của Đồng bằng sông Cửu Long. Định hướng mở rộng đặt trọng tâm vào thay đổi phương thức sản xuất trên toàn vùng thay vì chỉ hoàn thành mục tiêu diện tích.

“Thành công thực chất phải được đo bằng chất lượng hạt gạo, mức tăng thu nhập thực tế của người nông dân, tỷ lệ phát thải giảm thiểu được kiểm chứng minh bạch và sức cạnh tranh bền vững của toàn ngành hàng”, Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp nhấn mạnh.

Bài 2: Gỡ nút thắt công nghệ và vốn

Lưu Niệm/Báo Tin tức và Dân tộc

Dành cho bạn

Tổ chức lại không gian phát triển - Bài 1: Từ phát triển vùng kinh tế đến nâng sức cạnh tranh quốc gia

Tổ chức lại không gian phát triển - Bài 1: Từ phát triển vùng kinh tế đến nâng sức cạnh tranh quốc gia

Nghị quyết số 27-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển các vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia trong giai đoạn mới đặt ra yêu cầu không chỉ là tổ chức lại không gian phát triển theo chức năng, lợi thế từng địa phương mà còn tăng cường liên kết vùng, phân bổ hiệu quả nguồn lực, hình thành các cực tăng trưởng, qua đó, nâng cao sức cạnh tranh quốc gia.

Giá dầu giảm hơn 1% trong phiên đầu tuần

Giá dầu giảm hơn 1% trong phiên đầu tuần

Sáng 2/11, tại thị trường châu Á, giá dầu giảm hơn 1%, khi các quan chức Iran và Qatar đã có ngày đàm phán thứ ba liên tiếp nhằm thúc đẩy một thỏa thuận chấm dứt xung đột của Mỹ và Israel với Iran.

Biến số vĩ mô và nghịch lý 'khát vốn': Doanh nghiệp chủ động định vị lại cấu trúc tài chính

Biến số vĩ mô và nghịch lý 'khát vốn': Doanh nghiệp chủ động định vị lại cấu trúc tài chính

Bước vào chặng đua nước rút của năm 2026, bức tranh kinh tế vĩ mô đang chứng kiến sự giằng co quyết liệt khi nền kinh tế đã phát đi nhiều tín hiệu phục hồi tích cực, song ở bình diện vi mô, cộng đồng doanh nghiệp nội địa vẫn đang phải gồng mình chống đỡ những áp lực bủa vây từ biến động tỷ giá, lãi suất và sự leo thang của giá năng lượng.