Để hiểu rõ hơn những kết quả trên, phóng viên có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Minh Tiến, Giám đốc Trung tâm Xúc tiến thương mại Nông nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, về vấn đề này.
Thưa ông, ông đánh giá nông sản, thực phẩm đặc sản vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số của Việt Nam có những lợi thế cạnh tranh nào?
Theo đánh giá của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO), Việt Nam là một trong những nước có nền nông nghiệp rất đa dạng. Trong 7 nhóm sản phẩm nông sản, thực phẩm, gần như chúng ta tự chủ hoàn toàn và xuất khẩu tốt; 6/7 nhóm đứng thứ 2 thế giới về khả năng tự chủ về nông sản, thực phẩm. Tính đa dạng này đặc biệt thể hiện ở các vùng núi cao, nhất là những nơi có đồng bào dân tộc thiểu số.
Lợi thế đầu tiên là sự đa dạng về thời tiết, khí hậu và dư địa sản xuất, từ sản phẩm nhiệt đới đến cận ôn đới. Đồng thời, nhiều sản phẩm đặc sản có giá trị cao về dinh dưỡng và sức khỏe.
Cùng với đó, xu hướng tiêu dùng trên thế giới đang hướng tới những sản phẩm thuần tự nhiên, sản phẩm xanh. Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, nơi chưa có nhiều khu công nghiệp, khu đô thị, đây là dư địa để phát triển các sản phẩm tự nhiên, bảo đảm tính xanh và hướng tới sản phẩm hữu cơ.
Đặc biệt là việc gắn sản phẩm với tri thức bản địa và truyền thống văn hóa. Với các thị trường ngách, thị trường quà tặng, người tiêu dùng không chỉ mua sản phẩm mà còn quan tâm đến câu chuyện phía sau sản phẩm.
Đặc biệt, trong những năm qua, chúng ta đã có nhiều cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển sản phẩm đặc sản của vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa. Bộ Công Thương có chương trình về sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu; Bộ Nông nghiệp và Môi trường có Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP). Những chương trình này tạo điều kiện hỗ trợ người dân phát triển sản phẩm có chất lượng cao.
Bên cạnh đó, cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hệ thống logistics và logistics lạnh, ngày càng được nâng cấp, tạo điều kiện vận chuyển các sản phẩm tươi sống. Đây là một trong những yếu tố hỗ trợ sản phẩm đặc sản vùng sâu, vùng xa tiếp cận thị trường thế giới.
Ngày 6/4/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 626/QĐ-TTg, phê duyệt Chương trình “Vươn ra thị trường quốc tế giai đoạn 2026 - 2030”, gọi tắt là GoGlobal. Với những nền tảng về tri thức, tài nguyên bản địa và tâm huyết của người dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số, chương trình tạo thêm sự hỗ trợ từ hệ sinh thái.
Nếu trước đây xúc tiến xuất khẩu chủ yếu thông qua hội chợ, triển lãm hoặc kết nối cung cầu thì với GoGlobal, cách tiếp cận được chuyển sang xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ, tập trung theo nhóm sản phẩm, địa phương và ngành hàng.
Hoạt động xúc tiến cũng không chỉ dừng ở giới thiệu, bán hàng mà gắn với trình diễn, biểu diễn văn hóa và kể câu chuyện về sản phẩm. Qua đó, không chỉ xuất khẩu sản phẩm mà còn góp phần giới thiệu nền văn hóa Việt Nam, khẳng định văn hóa, tầm vóc và vị thế của đất nước.
Mục tiêu không chỉ là gia tăng kim ngạch xuất khẩu mà quan trọng hơn là khẳng định người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, vùng sâu, vùng xa hoàn toàn có thể tạo ra lợi ích kinh tế và sống tốt bằng những sản phẩm đặc sản.
Thưa ông, cần phải làm gì để các sản phẩm tại vùng núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số có thể đáp ứng yêu cầu xuất khẩu? Đâu là những khó khăn lớn nhất mà các chủ thể sản xuất đang gặp phải trong quá trình đáp ứng những yêu cầu này?
Tôi cho rằng khó khăn lớn nhất hiện nay là chuẩn hóa chất lượng. Các sản phẩm truyền thống, đặc sản của chúng ta có nhiều lợi thế nhưng khi xuất khẩu phải đáp ứng yêu cầu kỹ thuật, an toàn vệ sinh thực phẩm. Các thị trường như châu Âu, Mỹ, Nhật Bản đòi hỏi rất khắt khe.
Chẳng hạn, trà Shan tuyết xuất khẩu sang châu Âu phải kiểm định 32 chỉ số. Chi phí kiểm định một container khoảng 7.000 - 8.000 USD, đây là mức chi phí không nhỏ đối với các chủ thể có quy mô sản xuất nhỏ.
Điểm thứ hai là mẫu mã, bao bì và quy cách đóng gói. Nhiều sản phẩm của chúng ta vẫn có mẫu mã đơn giản, quy cách chưa phù hợp với từng thị trường. Chẳng hạn, miến dong ở Việt Nam trước đây thường đóng gói 1 kg, thậm chí 3 kg, nhưng với những thị trường có quy mô gia đình nhỏ hơn, cần điều chỉnh quy cách để phù hợp với nhu cầu tiêu dùng và bảo quản sản phẩm. Cùng với đó, bao bì cũng phải đáp ứng yêu cầu về ngôn ngữ của từng thị trường.
Điểm thứ ba là quy trình sản xuất, chế biến. Các thị trường phát triển yêu cầu chặt chẽ từ mã số vùng trồng đến mã số cơ sở chế biến, đóng gói, kho. Ngay cả các thị trường như Trung Quốc cũng yêu cầu nhiều loại mã số đối với sản phẩm xuất khẩu. Để đáp ứng các yêu cầu này, doanh nghiệp, chủ thể OCOP cần nguồn lực tài chính lớn. Bên cạnh đó, các chủ thể cần xác định rõ thị trường phù hợp với từng sản phẩm.
Muốn đưa sản phẩm đặc sản trở thành thương hiệu, người tiêu dùng thế giới có thể trải nghiệm những tinh hoa của sản vật Việt Nam, chúng ta phải vượt qua các rào cản về kỹ thuật, quy trình, cấp phép và năng lực tài chính. Qua đó, không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng mà còn khẳng định văn hóa, truyền thống của đồng bào dân tộc ở các vùng núi cao.
Thưa ông, trong thời gian tới, Trung tâm dự kiến triển khai những hoạt động nào để quảng bá, kết nối thị trường quốc tế cho nông sản, thực phẩm đặc sản vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số?
Trung tâm xác định tập trung đồng thời 3 kênh xúc tiến: duy trì hiện diện sản phẩm Việt Nam tại các hội chợ, triển lãm và diễn đàn quốc tế; đẩy mạnh thương mại điện tử xuyên biên giới, nền tảng số; và phát triển “xuất khẩu tại chỗ” gắn với điểm du lịch, trải nghiệm và khách quốc tế.
Chúng tôi sẽ tiếp tục hỗ trợ sự hiện diện của không gian Việt Nam, sản phẩm đặc sản Việt Nam tại các thị trường lớn thông qua hội chợ, triển lãm và diễn đàn kết nối cung cầu. Việc tham gia các triển lãm quốc tế cũng giúp doanh nghiệp trực tiếp nắm bắt nhu cầu, xu hướng tiêu dùng và đối thủ cạnh tranh. Qua đó, doanh nghiệp có thêm thông tin về xu hướng tiêu dùng xanh, hữu cơ, cá nhân hóa.
Cùng với đó, Bộ sẽ đẩy mạnh xúc tiến thương mại và hỗ trợ xuất khẩu thông qua các nền tảng mạng xã hội, thương mại điện tử xuyên biên giới. Sự phát triển của AI và chuyển đổi số cũng góp phần hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua rào cản ngôn ngữ khi tiếp cận các thị trường khác nhau.
Bên cạnh đó, chúng tôi hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu tại chỗ, thông qua phát triển các điểm bán hàng, giới thiệu, trải nghiệm sản phẩm đặc sản gắn với các điểm du lịch, nhất là những nơi có đông khách quốc tế. Các chủ thể OCOP được khuyến nghị phát triển sản phẩm đặc sản thành quà tặng, gắn với điểm giới thiệu và trải nghiệm dành cho du khách.
Như vậy, Trung tâm sẽ đồng thời triển khai 3 kênh: xúc tiến thông qua hội chợ, triển lãm, diễn đàn kết nối cung - cầu; thương mại điện tử xuyên biên giới; và xuất khẩu tại chỗ tại các điểm du lịch, gắn với trải nghiệm và thu hút khách quốc tế. Trong đó, ưu tiên hỗ trợ các chủ thể OCOP, đặc biệt là sản phẩm OCOP 4 sao, 5 sao và sản phẩm quà tặng.
Đối với sự phối hợp giữa Bộ Nông nghiệp và Môi trường với Bộ Công Thương, trong quá trình triển khai Quyết định 626/QĐ-TTg về GoGlobal, cần hướng tới cơ chế, chính sách linh hoạt, hỗ trợ theo hệ sinh thái, thay vì chỉ hỗ trợ từng doanh nghiệp hoặc từng sự kiện riêng lẻ.
Cùng với đó, cần đẩy mạnh sự hiện diện của nông sản, đặc sản Việt Nam trên thị trường thế giới, chuyển từ xuất khẩu hàng hóa sang xây dựng thương hiệu.
Tôi cho rằng, nếu có cách tiếp cận đúng và cơ chế, chính sách hỗ trợ phù hợp, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa không chỉ là vùng khó khăn mà còn là khu vực có dư địa và tiềm năng để phát triển những ngành hàng giá trị cao.
Trong giai đoạn 2026 - 2030, chúng tôi mong muốn Chương trình GoGlobal tạo ra hiệu quả thiết thực, không chỉ hướng tới mục tiêu kim ngạch xuất khẩu mà quan trọng hơn là giúp đời sống, sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng cao được phát triển bền vững, đúng với mong muốn “để không ai bị bỏ lại phía sau”.
Trân trọng cảm ơn ông!