Hoàn thiện thể chế, tạo động lực phát triển quốc gia biển mạnh

Nghị quyết số 20-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV đã xác định mục tiêu xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, giàu từ biển, đưa biển trở thành không gian phát triển và động lực tăng trưởng mới.

Phóng viên Báo Tin tức và Dân tộc đã phỏng vấn ông Nguyễn Quốc Toản, Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), về những mục tiêu, định hướng của Bộ trong thời gian tới để đưa Nghị quyết vào cuộc sống.

Thưa ông, Hội nghị Trung ương ba khóa XIV vừa ban hành Nghị quyết số 20-NQ/TW về xây dựng quốc gia biển mạnh. Theo ông, Nghị quyết có ý nghĩa như thế nào trong giai đoạn phát triển mới của đất nước?

Nghị quyết số 20-NQ/TW có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thể hiện tư duy phát triển và tầm nhìn chiến lược của Đảng ta đối với biển và đại dương trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới.

Biển có vị trí vô cùng đặc biệt trong suốt quá trình chiều dài phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Biển không chỉ là tài nguyên, khu vực có tính chất chiến lược đối với an ninh quốc phòng, mà biển còn là cuộc sống hàng ngày của hàng triệu ngư dân bám biển. Biển cũng là hình ảnh biểu tượng của Việt Nam trong quá trình phát triển kinh tế.

Đặc biệt, gần đây với sự thay đổi của mô hình chính quyền địa phương, với sự thay đổi về địa giới hành chính của đất nước từ 63 tỉnh, thành phố xuống còn 34 tỉnh, thành phố (trong đó 21 địa phương có biển), đã tạo ra dư địa phát triển về mặt không gian kinh tế, không gian địa lý và có những sự thay đổi rất quan trọng.

anhtoan.png
Ông Nguyễn Quốc Toản, Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết, Nghị quyết số 20-NQ/TW có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thể hiện tư duy phát triển và tầm nhìn chiến lược của Đảng ta đối với biển và đại dương trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới.

Nghị quyết lần này đã xác định rõ biển là không gian sinh tồn, không gian phát triển, không gian tăng trưởng mới và là nguồn lực chiến lược của quốc gia. Đây là bước phát triển rất quan trọng về nhận thức, đặt biển vào vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển đất nước.

Nghị quyết cũng đưa ra mục tiêu rất rõ ràng là xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, giàu từ biển, phát triển nhanh nhưng bền vững trên cơ sở quản trị biển hiện đại, khai thác hợp lý tài nguyên, bảo vệ hệ sinh thái biển, thích ứng với biến đổi khí hậu, đồng thời bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh, chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên biển.

Có thể nói, đây sẽ là kim chỉ nam để hoàn thiện thể chế, huy động mọi nguồn lực phát triển kinh tế biển, hình thành các ngành kinh tế biển hiện đại và tạo động lực tăng trưởng mới cho đất nước trong nhiều thập kỷ tới.

Ngay trong quá trình xây dựng Nghị quyết, Ban Thường vụ Đảng ủy, đồng chí Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng, đồng chí Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp đã chỉ đạo Cục Biển và Hải đảo Việt Nam bám sát các chủ trương, định hướng của Dự thảo Nghị quyết, đồng thời xác định việc hoàn thiện thể chế là nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm để nhanh chóng đưa các chủ trương của Đảng đi vào cuộc sống, phục vụ người dân, doanh nghiệp.

Hiện nay, Cục Biển và Hải đảo Việt Nam đang được giao chủ trì xây dựng Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) với quan điểm xuyên suốt là thể chế hóa các định hướng lớn của Nghị quyết 20-NQ/TW.

Thưa ông, sau 10 năm triển khai Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015, đâu là những “điểm nghẽn” lớn nhất trong quá trình triển khai là gì? Và dự thảo Luật sửa đổi sẽ khắc phục những “điểm nghẽn” đó ra sao?

Sau gần 10 năm thi hành, Luật năm 2015 đã tạo nền tảng pháp lý quan trọng cho quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển. Tuy nhiên, thực tiễn phát triển đã xuất hiện nhiều yêu cầu mới mà Luật hiện hành chưa theo kịp.

Qua tổng kết, chúng tôi nhận thấy một số "nút thắt" lớn như khuôn khổ pháp lý về quản lý, sử dụng không gian biển chưa hoàn thiện; cơ chế khuyến khích các ngành kinh tế biển mới còn thiếu; quản trị biển liên ngành và chuyển đổi số chưa đáp ứng yêu cầu phát triển.

Trong quá trình sửa đổi Luật chúng tôi luôn chủ động, lắng nghe ý kiến các Bộ ngành, địa phương, Hiệp hội doanh nghiệp nhằm tiếp thu những vấn đề phát sinh từ thực tiễn quản lý, cùng họp rà soát với VCCI và các hiệp hội ngành hàng để không chỉ nhằm tháo gỡ các khó khăn trước mắt mà còn hướng tới xây dựng một khuôn khổ pháp lý hiện đại, minh bạch, có tính dự báo cao, tạo nền tảng lâu dài để hiện thực hóa mục tiêu xây dựng quốc gia biển mạnh.

bien2608.jpg
Hoàn thiện thể chế, tạo động lực phát triển quốc gia biển mạnh. Ảnh: TTXVN

Trên cơ sở đó, Dự thảo Luật hiện đang được lấy ý kiến các Bộ ngành, địa phương, tổ chức cá nhân, được xây dựng theo hướng luật khung, tập trung quy định những nội dung mang tính nguyên tắc, ổn định; các nội dung kỹ thuật, chuyên ngành sẽ giao Chính phủ quy định chi tiết nhằm bảo đảm tính linh hoạt trong thực tiễn.

Trong đó, kế thừa các quy định còn phù hợp của Luật năm 2015, đồng thời bổ sung nhiều nội dung mới về quản lý, sử dụng không gian biển; giao, cho thuê và đăng ký sử dụng khu vực biển; ưu đãi phát triển kinh tế biển xanh; thúc đẩy chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu và hệ thống thông tin tài nguyên, môi trường biển và hải đảo.

Chúng tôi cũng đề xuất xem xét đơn giản hóa nhiều thủ tục hành chính, tăng cường ứng dụng dữ liệu số, phân định rõ trách nhiệm giữa Trung ương và địa phương, góp phần nâng cao hiệu lực quản lý, khai thác bền vững tài nguyên biển, tạo động lực phát triển kinh tế biển trong giai đoạn mới.

Nghị quyết 20-NQ/TW đặt ra yêu cầu đổi mới mạnh mẽ phương thức quản lý, khai thác và sử dụng biển. Để thực hiện mục tiêu đó, dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi), trong đó bổ sung các công cụ quản trị hiện đại như quy hoạch không gian biển quốc gia, cơ chế giao, cho thuê và đăng ký sử dụng khu vực biển, sử dụng đa mục đích và xử lý chồng lấn trong khai thác không gian biển.

Đồng thời, Bộ đang tập trung xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, kết nối các cơ sở dữ liệu ngành Nông nghiệp và Môi trường, dữ liệu quy hoạch, sử dụng biển để nâng cao hiệu quả quản trị. Mục tiêu là khơi thông nguồn lực từ biển nhưng không đánh đổi môi trường, hệ sinh thái, sinh kế người dân và các yêu cầu về quốc phòng, an ninh.

Các chính sách mới sẽ tạo tác động tích cực đối với hầu hết các ngành kinh tế biển, đặc biệt là những lĩnh vực cần sử dụng không gian biển ổn định, lâu dài và có quy mô đầu tư lớn. Có thể kể đến điện gió ngoài khơi, nuôi biển công nghiệp, cảng biển, logistics, du lịch biển, khai thác tài nguyên biển, kinh tế tuần hoàn, công nghiệp sinh học biển cũng như nhiều ngành kinh tế biển mới.

Khi quyền sử dụng khu vực biển được xác lập rõ ràng, việc phân bổ không gian biển minh bạch hơn, cơ chế ưu đãi được hoàn thiện, doanh nghiệp sẽ mạnh dạn đầu tư dài hạn, ứng dụng công nghệ cao và huy động nguồn lực xã hội.

Quan trọng hơn, Luật sẽ tạo điều kiện để chuyển từ mô hình khai thác biển theo từng ngành riêng lẻ sang quản trị tổng hợp không gian biển, thúc đẩy liên kết giữa năng lượng, logistics, cảng biển, nuôi biển, du lịch và công nghiệp biển, hình thành các chuỗi giá trị mới có sức cạnh tranh quốc tế.

Để Nghị quyết 20-NQ/TW vào cuộc sống, tạo động lực phát triển kinh tế biển trong giai đoạn tới, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ thực hiện những giải pháp trọng tâm gì, thưa ông?

Để cụ thể hóa định hướng xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh theo Nghị quyết 20-NQ/TW, từ nay đến năm 2030, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã chỉ đạo các đơn vị liên quan tham mưu xây dựng Kế hoạch hành động của Bộ. Một trong những mục tiêu trọng tâm là hoàn thiện thể chế, trong đó hoàn thiện hồ sơ dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi); tới đây sẽ rà soát, cập nhật, điều chỉnh Quy hoạch không gian biển quốc gia và Quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ. Cùng với đó là tích hợp, kết nối, chia sẻ dữ liệu biển, tạo nền tảng cho quản trị biển hiện đại.

Về bảo vệ môi trường và hệ sinh thái, mục tiêu đặt ra là bảo tồn, phục hồi hệ sinh thái, phát triển khu bảo tồn biển, ven biển và xử lý rác thải nhựa ven biển. Trong lĩnh vực thủy sản, phấn đấu mức tăng bình quân giá trị sản xuất nuôi biển là 8%/năm, tỷ trọng nuôi biển trong tổng giá trị sản xuất thủy sản đạt 15%. Đặc biệt, Bộ cũng tăng cường chống khai thác IUU, hướng tới gỡ cảnh báo của Ủy ban châu Âu (EC) về khai thác IUU. Đồng thời, nâng cao năng lực quan trắc, cảnh báo sớm thiên tai, xói lở, nước biển dâng.

Để thực hiện các mục tiêu này, Bộ xác định 9 nhóm giải pháp trọng tâm. Trước hết là tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo; quán triệt, nâng cao nhận thức. Nghị quyết 20-NQ/TW và các văn bản triển khai được phổ biến sâu rộng đến toàn thể cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động, qua đó tạo sự thống nhất về nhận thức, quyết tâm chính trị và hành động.

Tiếp đó là hoàn thiện thể chế, pháp luật, hướng tới quản trị biển hiện đại. Trọng tâm là hoàn thiện dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi), rà soát pháp luật liên quan, đề xuất cơ quan đầu mối và cơ chế điều phối liên ngành, liên vùng.

Cùng với hoàn thiện thể chế là đổi mới quy hoạch không gian biển, quản lý bền vững tài nguyên. Quy hoạch được định hướng trở thành công cụ phân bổ, điều phối hiệu quả không gian biển, giảm xung đột giữa các ngành, hài hòa giữa phát triển kinh tế biển với môi trường, quốc phòng, an ninh.

Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, dữ liệu biển và nguồn nhân lực cũng được xác định là nhóm giải pháp quan trọng. Trong đó, tập trung xây dựng, kết nối, chia sẻ cơ sở dữ liệu quốc gia về biển; ứng dụng viễn thám, trí tuệ nhân tạo, IoT trong giám sát, cảnh báo sớm ô nhiễm và biến động bờ biển.

Đối với thủy sản, định hướng là cơ cấu lại ngành theo hướng hiện đại, có trách nhiệm; giảm khai thác ven bờ, đẩy mạnh khai thác xa bờ; phát triển nuôi biển công nghiệp, nuôi biển công nghệ cao; chống IUU, truy xuất nguồn gốc, gỡ “thẻ vàng”.

Trong bảo vệ môi trường biển và đa dạng sinh học, tập trung mở rộng, quản lý hiệu quả khu bảo tồn biển, đa dạng sinh học, giảm rác thải nhựa. Mở rộng, quản lý hiệu quả khu bảo tồn biển; bảo vệ rừng ngập mặn, rạn san hô, thảm cỏ biển; kiểm soát chặt nguồn thải; tăng cường thu gom, phân loại, tái chế rác thải nhựa ven biển.

Trước tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng và thiên tai, các địa phương ven biển, đảo cần nâng cao năng lực quan trắc, dự báo, cảnh báo sớm; xây dựng cơ sở dữ liệu môi trường biển phục vụ ứng phó sự cố, cứu nạn.

Một nhóm giải pháp khác là tăng cường phối hợp liên ngành, liên vùng, hợp tác quốc tế, gắn phát triển biển với quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Biển là không gian liên thông, không chia cắt theo địa giới hành chính, do đó cần phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành, địa phương, lực lượng thực thi pháp luật trên biển và các đối tác quốc tế.

Trân trọng cảm ơn ông!

Thu Trang/Báo Tin tức và Dân tộc

Dành cho bạn

Hà Nội điều chỉnh phương án giao thông nút giao Láng Hạ - Giảng Võ - La Thành

Hà Nội điều chỉnh phương án giao thông nút giao Láng Hạ - Giảng Võ - La Thành

Ngày 15/9, Sở Xây dựng Hà Nội cho biết, căn cứ hiện trạng tổ chức rào chắn và biện pháp tổ chức giao thông phục vụ rào chắn thi công của Ban Quản lý dự án Đầu tư xây dựng công trình dân dụng thành phố Hà Nội, từ 15/9, sở sẽ điều chỉnh phương án tổ chức giao thông nút giao Láng Hạ - Giảng Võ - La Thành và các khu vực lân cận phục vụ thi công cầu vượt nút giao Láng Hạ - Giảng Võ dự án Đầu tư xây dựng đường vành đai 1 (đoạn Hoàng Cầu - Voi Phục), thành phố Hà Nội (giai đoạn 2).