Dấu chân người Việt
Cách đây hơn 6 thế kỷ, trên quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa đã có ngư dân sinh sống ở đây. Trong tài liệu “Thiên Nam Tứ Chí lộ Đồ thư” của Đỗ Bá viết vào đầu thế kỷ XVII đã xác nhận rằng: “Chúa Nguyễn đã lập nên đội Hoàng Sa để khai thác quần đảo”. Tuyển tập nêu rõ: “Ngoài khơi Biển Đông nước Nam có một quần đảo cồn cát dài khoảng 400 lý, rộng 20 lý nhô lên từ đáy biển, gọi là Bãi cát vàng. Mỗi năm vào cuối mùa đông, Chúa Nguyễn đều cho một hạm đội gồm 18 thuyền viên ra đảo để thu thập những hóa vật, đem về một số lớn vàng bạc, tiền tệ, súng đạn. Đây là di chứng của ngư dân đi thuyền bị đắm trôi dạt vào đảo”.
Từ sự minh chứng lịch sử trên, cho thấy Việt Nam đã khám phá và biết đảo Trường Sa ít nhất từ thế kỷ XV và sinh sống tại đây từ nhiều thế kỷ. Đến thế kỷ XVII, chính quyền nhà Nguyễn đã tổ chức khai thác đảo có hệ thống. Đây là dấu ấn kiên định mang ý nghĩa lịch sử, khẳng định chủ quyền Trường Sa, Hoàng Sa là của Việt Nam.
Bia ghi nhớ chủ quyền Trường Sa. ảnh: MT |
Dấu ấn sớm nhất được ghi lại sự có mặt của ngư dân Việt Nam ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là từ năm thứ ba trước Công nguyên. Đó là một số đông đảo người dân đánh cá, đa số là cư dân cổ người Việt. Họ đến đây để đánh cá mang về đất liền bán hoặc trao đổi lấy lương thực, thực phẩm. Thời gian sinh sống ở đảo từ 5 tháng đến 3 năm/đợt. Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, không chỉ có ngư dân Việt Nam mà có cả thủy thủ đến từ một số nước lớn ở châu Âu như Richard Sparetly; Wiliam Sparetly cũng đến quần đảo Trường Sa, nhưng đã tự rút lui sau khi có sự phản kháng từ phía chính quyền nhà Nguyễn. Đó là vào năm 1883.
Tất cả các bản đồ địa lý của Việt Nam đều ghi nhận “Bãi cát vàng” (quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa) là lãnh thổ của Việt Nam từ đầu thế kỷ XVII. Trong cuốn “Phủ biên tạp lục” của Lê Quí Đôn, Hoàng Sa và Trường Sa được xác định rõ thuộc về địa danh tỉnh Quảng Ngãi. Đó là nơi ngư dân Việt Nam đến khai thác các sản phẩm biển và các đồ vật còn sót lại từ các vụ đắm tàu. Cũng ở thế kỷ XVII, dưới triều nhà Lê, quần đảo Trường Sa là nơi hội tụ giao thương kinh tế. Các hoạt động giao thương kinh tế ấy được tiếp nối khi nhà Nguyễn lên cầm quyền.
Từ sự minh chứng chủ quyền lịch sử, ngày 7/7/1951, thay mặt nhân dân Việt nam, Chủ tịch phái đoàn Chính phủ Bảo Đại Trần Văn Hữu đã dự Hội nghị San Fracisco về “Hiệp ước hòa bình” với Nhật Bản. Tại đây ông đã tuyên bố rằng quần đảo Hoàng sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Nhân dân Việt Nam có quyền bảo vệ chủ quyền và lãnh thổ của mình. Hội nghị ấy có 51 nước tham gia, song không một thành viên nước nào phản đối hoặc bảo lưu ý kiến. Họ thừa nhận Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam từ lâu đời trong lịch sử.
Trải qua nhiều thập kỷ khai thác và giữ gìn, Việt Nam đã tiến hành hàng trăm cuộc khảo sát địa lý, tài nguyên, thế trận an ninh quốc phòng, kinh tế trên quần đảo. Kết quả những lần khảo sát ấy được ghi chép rõ ràng trong các tài liệu cũng như văn học và lịch sử Việt Nam, được xuất bản từ thế kỷ XVII.
Công cuộc bảo vệ chủ quyền
Bên cột mốc chủ quyền. ảnh tư liệu Hải quân |
Để có một Trường Sa vững vàng, hiên ngang như ngày hôm nay, ở “bãi cát vàng” nhỏ nhoi đầy bão tố ấy, quân và dân ta luôn kiên cường bám biển, giữ đảo, chưa một phút nghỉ ngơi. Biết bao trái tim đã cống hiến trọn đời mình cho đảo nhỏ tiền tiêu này, bao chiến sĩ đã đổ máu xương ở nơi đây mà không hề do dự, cốt là để bảo vệ Trường Sa- Lãnh thổ Việt nam đã có từ thời hồng hoang của lịch sử.
Vào cuối thập kỷ 80 của thế kỷ trước, nước ngoài cho quân đóng chiếm một số bãi thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam như Chữ Thập, Châu Viên, Gạc ma, Huy gơ. Trước tình thế ấy, những người lính hải quân của đoàn vận tải M25 đã hạ quyết tâm canh giữ với phương châm “một tấc không đi, một ly không rời”. Trên tinh thần chính đáng: Bảo vệ cột mốc chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, những người lính thủy thuyền trưởng Vũ Phi Trừ tàu HQ-604, thuyền trưởng Vũ Huy Lễ tàu HQ-505, cùng cán bộ chiến sĩ của 2 phân đội công binh e83, cán bộ chiến sĩ của Đoàn M46, cán bộ chiến sĩ của Đoàn Đo đạc biển và vẽ bản đồ đã mưu trí sáng tạo, chiến đấu anh dũng, làm chủ vùng biển, đảo. Lá cờ đỏ sao vàng của Tổ quốc được cắm trên đảo. Lá cờ kiêu hãnh ấy đã nhuộm máu của người lính Hải quân Việt Nam.
Chiến sĩ Nguyễn Văn Lanh với tinh thần “một tấc không đi, một ly không rời” đã chiến đấu ngoan cường, bằng mọi giá phải cắm được cờ trên đảo. Thiếu úy Trần Văn Phương trước khi hi sinh hô vang: “Thà hy sinh chứ nhất định không chịu mất đảo. Hãy để máu của mình tô thắm cờ truyền thống của quân chủng Hải quân”.
Mai Thắng
Kỳ 2: Giải phóng Trường Sa