Ông Sơn bắt đầu nuôi động vật hoang dã từ năm 2007 với con nhím. Tuy nhiên, giai đoạn 2011-2012, thị trường tiêu thụ khó khăn, giá nhím giảm mạnh khiến ông phải thanh lý đàn, chuyển sang kinh doanh.
Năm 2019, khi hoạt động kinh doanh không còn hiệu quả như trước, ông trở lại với nghề nuôi vật đặc sản. Qua Facebook, YouTube và các hội nhóm chăn nuôi, ông tìm hiểu mô hình nuôi cầy mốc rồi đầu tư gây dựng đàn.
Những ngày đầu, việc chăn nuôi gặp nhiều khó khăn do con giống chưa bảo đảm chất lượng, kinh nghiệm chăm sóc và phòng bệnh còn hạn chế. Năm 2021, ông sang Trung Quốc tìm hiểu mô hình tại các trang trại lớn, đồng thời học hỏi thêm kinh nghiệm từ các cơ sở chăn nuôi trong nước.
Quá trình gây dựng đàn cũng trải qua nhiều thất bại. Có thời điểm, 30 con dúi bị bệnh chết, gây thiệt hại khoảng 150 triệu đồng; đàn cầy từng khiến gia đình thiệt hại khoảng 350 triệu đồng. Từ thực tế đó, ông nhận ra việc chọn giống, chăm sóc và phòng bệnh là những yếu tố quyết định hiệu quả chăn nuôi.
Ông Sơn từng bước xây dựng quy trình phù hợp với từng loại vật nuôi. Chuồng cầy được thiết kế thông thoáng vào mùa hè, giữ ấm vào mùa đông; vật nuôi được theo dõi sức khỏe và tiêm vaccine định kỳ. Với dúi, ông chú trọng phòng các bệnh về đường hô hấp, tiêu chảy, ghẻ, nấm và xử lý sớm khi phát hiện dấu hiệu bất thường.
Đến nay, mô hình duy trì khoảng 300 con cầy và 160 con dúi. Theo ông Sơn, đây là những vật nuôi có giá trị kinh tế cao, không đòi hỏi diện tích lớn, trong khi nguồn thức ăn tương đối dễ tìm, phù hợp với điều kiện sản xuất của các hộ miền núi. Dúi má đào chủ yếu sử dụng tre, ngô và một số loại thức ăn sẵn có; sau khoảng 5 tháng có thể xuất bán con giống.
Thay vì bán hết vật nuôi để thu lợi trước mắt, ông Sơn ưu tiên xây dựng đàn sinh sản. Những con cái khỏe mạnh, sinh sản tốt được giữ lại nhân đàn; các cá thể sinh sản kém được chọn lọc bán thương phẩm. Cách làm này giúp trang trại vừa có nguồn thu thường xuyên, vừa chủ động con giống để mở rộng quy mô.
Hiệu quả kinh tế từ mô hình khá rõ nét. Năm 2025, gia đình ông Sơn đạt doanh thu hơn 2 tỷ đồng từ bán cầy, dúi; sau khi trừ chi phí thức ăn, lợi nhuận khoảng 1,5 tỷ đồng. Năm 2026, gia đình tập trung nhân đàn nên lượng bán ra giảm, song từ đầu năm đến nay doanh thu vẫn đạt khoảng 600 triệu đồng.
Hiện cầy thương phẩm có giá buôn khoảng 1,5-1,6 triệu đồng/kg, cung cấp cho nhà hàng khoảng 1,7 triệu đồng/kg; dúi má đào có giá khoảng 700.000-800.000 đồng/kg. Việc kết hợp bán con giống và thương phẩm giúp mô hình có thêm nguồn thu, giảm phụ thuộc vào một kênh tiêu thụ.
Không chỉ mang lại thu nhập cho gia đình, trang trại còn cung cấp con giống cho các hộ ở một số địa phương trong tỉnh và các tỉnh Yên Bái, Ninh Bình. Sau khi bán giống, ông Sơn trực tiếp hướng dẫn kỹ thuật chăm sóc, phòng bệnh, phối giống và nuôi con non. Mô hình hiện tạo việc làm thường xuyên cho 2 lao động chuyên môn, đồng thời thuê lao động thời vụ với mức thu nhập khoảng 200.000-300.000 đồng/người/ngày, tùy công việc và tay nghề.
Ông Mai Công Hoan, Trưởng phòng Kinh tế xã Tân An, cho biết mô hình nuôi cầy, dúi của gia đình ông Vũ Đình Sơn cho hiệu quả kinh tế cao, phù hợp với điều kiện sản xuất của người dân miền núi. Trong kế hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi năm 2026, xã xác định phát triển các vật nuôi có giá trị kinh tế như cầy hương, cầy mốc, dúi má đào, dúi mộc nhằm góp phần nâng cao thu nhập cho người dân. Xã phấn đấu đến hết năm 2026 có trên 2 mô hình nuôi cầy, dúi với tổng đàn trên 700 con.
Từ những thất bại ban đầu đến mô hình gần 500 con hiện nay, ông Sơn cho thấy việc lựa chọn vật nuôi phù hợp, chủ động nguồn giống, làm chủ kỹ thuật và tổ chức sản xuất bài bản có thể mang lại hiệu quả kinh tế cao. Mô hình không chỉ giúp gia đình tăng thu nhập mà còn gợi mở hướng phát triển sinh kế mới cho người dân nông thôn, miền núi, từng bước hình thành liên kết giữa sản xuất con giống, nuôi thương phẩm và chuyển giao kỹ thuật./.