Mô hình ngân hàng số chuyên biệt
Tại Hội nghị Tăng cường khả năng tiếp cận vốn tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) diễn ra sáng 18/9, ông Nguyễn Văn Thân, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam (Vinasme) cho rằng, theo thống kê, tính đến cuối tháng 7/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đã đạt trên 20 triệu tỷ đồng.
“Nhu cầu vốn ngày càng đa dạng trong khi phương thức cung ứng vốn hiện vẫn chủ yếu dựa vào hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) và các yêu cầu về tài sản bảo đảm truyền thống. Từ thực tế này, Vinasme kiến nghị một số nhóm khuyến nghị nhằm mở rộng khả năng tiếp cận vốn cho SME và hộ kinh doanh trong giai đoạn tới.
Cụ thể, nghiên cứu thí điểm mô hình ngân hàng số chuyên biệt cho SME và hộ kinh doanh; đồng thời bảo đảm các yêu cầu về quản lý rủi ro và an toàn hệ thống. Hiệp hội đề nghị Ngân hàng Nhà nước (NHNN) nghiên cứu, phối hợp với Hiệp hội để thí điểm mô hình ngân hàng số chuyên doanh, tập trung phục vụ hai nhóm khách hàng này.
Theo ông Nguyễn Văn Thân, đây có thể là hướng đi mới nhằm giải quyết một phần những hạn chế đang tồn tại trong tiếp cận tín dụng. SME và hộ kinh doanh có số lượng rất lớn, nhu cầu vốn đa dạng nhưng quy mô từng khoản vay nhìn chung không quá lớn. Nếu áp dụng hoàn toàn mô hình ngân hàng truyền thống với chi phí thẩm định, quản lý và phục vụ tương đối cao, chi phí cung ứng tín dụng cho nhóm khách hàng này có thể tiếp tục là một trở ngại.
“Cần đa dạng hóa các tổ chức cung ứng tín dụng ngoài mô hình ngân hàng truyền thống, trong đó chú trọng phát triển các tổ chức cho vay không nhận tiền gửi của công chúng. Hiệp hội đề nghị NHNN nghiên cứu tạo điều kiện, xây dựng cơ chế cấp phép và thúc đẩy sự phát triển của loại hình tổ chức này, qua đó đa dạng hóa nguồn cung dịch vụ tài chính và tín dụng cho SME và hộ kinh doanh”, ông Nguyễn Văn Thân kiến nghị.
Đối với SME, đặc biệt doanh nghiệp siêu nhỏ và hộ kinh doanh, các tổ chức tài chính chuyên biệt có thể thiết kế những sản phẩm phù hợp hơn với đặc điểm tài sản, dòng tiền và chu kỳ kinh doanh. Do đó, Hiệp hội kiến nghị NHNN tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý theo hướng vừa bảo đảm an toàn hệ thống, vừa tạo môi trường cạnh tranh và đa dạng hóa chủ thể cung ứng tín dụng.
Giải pháp tiếp theo được đưa ra là thúc đẩy phát triển thị trường bao thanh toán và tài trợ khoản phải thu. Theo ông Nguyễn Văn Thân, trong hoạt động của doanh nghiệp đang tồn tại một nguồn tài sản rất lớn nhưng chưa được khai thác đầy đủ để chuyển hóa thành vốn, đó là các khoản phải thu và dòng tiền trong tương lai. Hiệp hội kiến nghị NHNN thúc đẩy mạnh hơn hoạt động bao thanh toán, đặc biệt là bao thanh toán miễn truy đòi theo hướng tiếp cận thông lệ và chuẩn mực quốc tế của FCI.
Bên cạnh đó, cần nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế liên quan tới vai trò của đại lý bao thanh toán nước ngoài, bảo hiểm khoản phải thu và các công cụ bảo đảm rủi ro phù hợp thông lệ quốc tế. “Việc xây dựng hệ thống kết nối chung, cho phép các chủ thể trên thị trường chia sẻ, đối chiếu và kiểm tra những thông tin cần thiết trong phạm vi pháp luật cho phép. Hệ thống này sẽ hỗ trợ quản lý rủi ro, hạn chế tình trạng một khoản phải thu được sử dụng để tài trợ nhiều lần cũng như những rủi ro chưa được nhận diện đầy đủ”, ông Nguyễn Văn Thân chia sẻ.
Liên quan tới phát triển hệ sinh thái xếp hạng tín nhiệm và dữ liệu phục vụ việc đánh giá SME, Chủ tịch Vinasme kiến nghị từng bước hình thành một hệ sinh thái đánh giá tín nhiệm doanh nghiệp độc lập, khách quan và dựa trên dữ liệu. Theo đó, cần khuyến khích các tổ chức xếp hạng tín nhiệm độc lập cung cấp dịch vụ cho SME; nghiên cứu những mô hình của các doanh nghiệp đã có kinh nghiệm trên thị trường như FiinGroup.
Hiện nay, các TCTD sử dụng dữ liệu của Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam (CIC) như một nguồn thông tin quan trọng trong quá trình đánh giá khách hàng. Tuy nhiên, nếu có thêm các tổ chức độc lập thực hiện thu thập, xử lý và phân tích dữ liệu theo đúng quy định pháp luật, ngân hàng sẽ có thêm nguồn thông tin để đánh giá tín nhiệm, mức độ rủi ro và khả năng trả nợ của khách hàng.
Để thúc đẩy SME tham gia sâu hơn vào các chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị toàn cầu. Hiệp hội đề nghị NHNN phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng các cơ quan liên quan nghiên cứu cơ chế phối hợp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu của SME.
Cùng với các giải pháp chính sách, ông Nguyễn Văn Thân cho rằng các tổ chức tài chính, bao gồm NHTM và các tổ chức cho vay không nhận tiền gửi, cần phát triển mạnh hơn các sản phẩm tài trợ dựa trên tài sản và dòng tiền của doanh nghiệp. Các sản phẩm có thể bao gồm tài trợ khoản phải thu, tài trợ dựa trên hàng hóa luân chuyển trong kinh doanh, tài trợ kho hàng, tài trợ chuỗi cung ứng, bao thanh toán, cho thuê tài chính và các hình thức tài trợ thương mại khác.
Điểm chung của những phương thức này là giúp doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn dựa trên chính tài sản và dòng tiền hình thành trong quá trình sản xuất, kinh doanh, thay vì phụ thuộc chủ yếu vào bất động sản hoặc tài sản cố định.
Doanh nghiệp cũng phải nâng cao minh bạch, năng lực quản trị
Bên cạnh những kiến nghị trên, Vinasme cũng xác định trách nhiệm của chính cộng đồng doanh nghiệp trong việc nâng cao khả năng tiếp cận vốn.
Về phía các doanh nghiệp cũng phải thay đổi. Đó là phải nâng cao tính minh bạch, năng lực quản trị, chất lượng số liệu tài chính và trách nhiệm trong sử dụng vốn. “Yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới đòi hỏi chúng ta phải đổi mới mạnh mẽ hơn nữa”, ông Nguyễn Văn Thân nhấn mạnh.
Mục tiêu không chỉ là tăng lượng vốn cung ứng cho SME mà còn hướng tới hình thành một hệ sinh thái tài chính đa dạng hơn, nơi doanh nghiệp có thể tiếp cận vốn dựa trên dữ liệu, tín nhiệm, dòng tiền, khoản phải thu, hàng hóa và vị trí trong chuỗi cung ứng, thay vì phụ thuộc chủ yếu vào tài sản thế chấp truyền thống.
Theo Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Ngọc Cảnh, tính đến ngày 28/8, dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế đạt gần 21 triệu tỷ đồng, tăng 10,24% so với cuối năm 2025. Riêng đối với SME, hiện có 43 TCTD cam kết tín dụng ưu đãi đối với SME. Dư nợ tín dụng đạt trên 4,1 triệu tỷ đồng, tăng 12,4% so với cuối năm 2025, tốc độ tăng cao hơn so với tăng trưởng tín dụng bình quân của nền kinh tế là 10,24%, chiếm khoảng 20% tổng dư nợ của nền kinh tế.
Trong tháng 8/2026, NHNN đã có văn bản chỉ đạo các NHTM triển khai các chương trình tín dụng hướng đến SME và các doanh nghiệp, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực tạo động lực tăng trưởng.
Sau hơn 1 tháng triển khai, từ chỗ chỉ có 4 NHTM Nhà nước đăng ký với gói 220.000 tỷ đồng, thì đến nay đã có 19 NHTM công bố thông tin chương trình, sản phẩm ưu đãi với quy mô lên trên 407.000 tỷ đồng, lãi suất ưu đãi cam kết thấp hơn từ 1 đến 2% so với mức lãi suất bình quân cùng kỳ hạn của các ngân hàng hiện đang cho vay.
Ông Nguyễn Xuân Bắc, Phó Vụ trưởng phụ trách Vụ Tín dụng (NHNN) cho biết: NHNN đã trình Quốc hội sửa đổi, bổ sung Luật NHNN, Luật Phòng, chống rửa tiền và Luật Các tổ chức tín dụng; đồng thời sửa đổi các quy định về cho vay theo hướng tăng tính minh bạch, thông thoáng, ứng dụng công nghệ để rút ngắn thời gian và quy trình cho vay.
Các quy định mới hướng đến giảm bớt một số điều kiện đối với các khoản vay có giá trị nhỏ, mở rộng khả năng tiếp cận tín dụng qua kênh điện tử, qua đó giảm chi phí giao dịch và tiết kiệm thời gian cho khách hàng. Danh mục tài sản cho thuê tài chính cũng được mở rộng sang phần mềm, quyền khai thác, tài sản trí tuệ và dữ liệu.
Trong khi đó, các TCTD ngày càng đẩy mạnh áp dụng các chuẩn mực quản trị rủi ro theo lệ quốc tế, đòi hỏi ngày càng cao về tính minh bạch của thông tin tài chính, tài sản đảm bảo của khách hàng, do đó không thể thực hiện giải pháp về hạ chuẩn để tạo điều kiện cấp tín dụng.
“Việc thẩm định các khoản vay không có tài sản đảm bảo đòi hỏi các TCTD phải có đầy đủ các thông tin về tình hình tài chính, dòng tiền, lịch sử hoạt động và khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Đây chính là những vấn đề trọng tâm và cốt lõi nhất trong việc khơi thông dòng vốn cho nền kinh tế”, Phó Thống đốc Nguyễn Ngọc Cảnh chia sẻ.
Theo NHNN, thực trạng phần lớn SME tại Việt Nam hiện có quy mô nhỏ và siêu nhỏ, năng lực tài chính, vốn chủ sở hữu và sức chống chịu còn hạn chế; năng lực quản trị và lập kế hoạch sản xuất, kinh doanh chưa đồng đều.
Một bộ phận doanh nghiệp chưa có phương án sản xuất, kinh doanh đủ khả thi để chứng minh khả năng trả nợ; thông tin tài chính, báo cáo tài chính và dòng tiền chưa đầy đủ, minh bạch; một số doanh nghiệp chưa có báo cáo tài chính được kiểm toán hoặc còn có sự khác biệt giữa báo cáo tài chính, báo cáo thuế và thông tin quản trị nội bộ.
Đối với doanh nghiệp mới thành lập hoặc hoạt động trong lĩnh vực mới, TCTD chưa có đủ dữ liệu lịch sử để đánh giá, xếp hạng tín nhiệm và dự báo dòng tiền; trong khi đó, một số doanh nghiệp chưa có sự phối hợp, chia sẻ thông tin đầy đủ với ngân hàng, làm hạn chế việc đánh giá dòng tiền.
Bên cạnh đó, một số SME còn gặp khó khăn về dòng tiền và khả năng trả nợ như hàng tồn kho lớn, công nợ phải thu cao, bị khách hàng chiếm dụng vốn; một số khoản nợ đến hạn hoặc nợ đã được cơ cấu chưa có khả năng trả đầy đủ. Đối với một số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, tỷ suất lợi nhuận thấp và mức độ rủi ro cao nhưng thiếu công cụ bảo hiểm cũng làm hạn chế khả năng tiếp cận tín dụng.
Đại diện NHNN cho rằng, vướng mắc pháp lý đối với tài sản thế chấp của SME như tài sản tại khu công nghiệp, đất nằm trong quy hoạch, công trình chưa hoàn công hoặc chưa đầy đủ hồ sơ pháp lý, dẫn đến không đáp ứng được điều kiện bảo đảm cho khoản vay.
Trong khi đó, mức độ liên kết giữa SME với các doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và trong các chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng còn hạn chế, nên nhiều SME chưa có đầu ra ổn định, chưa hình thành được dòng tiền đủ chắc chắn để làm cơ sở cho TCTD đánh giá và cấp tín dụng.
Thời gian tới, NHNN sẽ tiếp tục hoàn thiện thể chế pháp luật ngân hàng, tạo cơ sở pháp lý đồng bộ, thuận lợi cho điều hành chính sách tiền tệ và ngân hàng; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính; hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên (trong đó có SME); đa dạng hóa sản phẩm tín dụng.
Các TCTD cần nghiên cứu phương thức đánh giá tín dụng dựa nhiều hơn trên phương án sản xuất, kinh doanh, dòng tiền, lịch sử tín dụng, năng lực quản trị và dữ liệu của doanh nghiệp; đồng thời, phối hợp với các Bộ liên quan, chủ động xây dựng, hoàn thiện cơ sở dữ liệu khách hàng SME; tiếp tục phát triển các hình thức tài trợ phù hợp như bảo lãnh, bao thanh toán, cho thuê tài chính, tài trợ chuỗi cung ứng và các sản phẩm tài chính số.