Phóng viên báo Tin tức và Dân tộc đã có cuộc trao đổi với ông Phạm Đức Nghiệm, Phó Cục trưởng Cục Khởi nghiệp và Doanh nghiệp công nghệ thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ, xung quanh chủ đề này.
Ông đã tham gia tư vấn, góp ý với Hà Nội trong quá trình xây dựng 6 nghị quyết chuyên đề về đột phá khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo. Vậy ông có thể cho biết những điểm nhấn đột phá của 6 nghị quyết này so với trước đây?
Nhằm cụ thể hóa các cơ chế đặc thù, vượt trội của Luật Thủ đô, , Hội đồng nhân dân (HĐND) thành phố Hà Nội đã thông qua khung chính sách gồm 6 Nghị quyết chuyên đề để hoàn thiện nền tảng hành lang pháp lý, tạo bệ phóng đưa Hà Nội trở thành trung tâm khoa học, công nghệ (KHCN), đổi mới sáng tạo (ĐMST) và chuyển đổi số hàng đầu cả nước.Do đó, những điểm đột phá dưới đây là sự so sánh giữa 6 Nghị quyết mới này so với hành lang pháp lý cũ (giai đoạn trước năm 2025).
Điểm nhấn đột phá của 6 Nghị quyết chuyên đề này là đã được cụ thể hóa, nâng cấp và triển khai đồng bộ qua Kế hoạch số 288/KH-UBND ngày 22/7/2026 của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội. Sự đột phá thể hiện rõ qua các điểm nhấn:
Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (Sandbox) với lần đầu tiên Hà Nội có khung pháp lý chính thức cho phép thử nghiệm các công nghệ, mô hình kinh doanh và dịch vụ số mới chưa từng có tiền lệ. Doanh nghiệp công nghệ không còn phải chờ "luật đuổi theo công nghệ".
Khung pháp lý cho Vốn đầu tư mạo hiểm với việc Hà Nội thông qua Nghị quyết thí điểm Quỹ đầu tư mạo hiểm Thành phố. Cơ chế này cho phép sử dụng dòng vốn mồi từ ngân sách phối hợp với tư nhân để đầu tư vào startup công nghệ, chấp nhận tỷ lệ rủi ro thất bại theo quy luật thị trường.
Chuyển từ tư duy “quản lý đầu vào” sang “quản trị theo kết quả”, thông qua cơ chế khoán sản phẩm đầu ra. Thay vì đặt nặng việc kiểm soát từng khoản chi, hóa đơn, chứng từ theo dự toán chi tiết, cơ chế mới chú trọng đánh giá sản phẩm cuối cùng, hiệu quả ứng dụng và tác động thực tế của nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đây được kỳ vọng là một trong những giải pháp tháo gỡ điểm nghẽn về cơ chế tài chính, giúp nhà khoa học giảm gánh nặng thủ tục và có thêm thời gian để tập trung vào nghiên cứu, phát triển và đưa kết quả KH&CN vào thực tiễn.
Thương mại hóa tài sản trí tuệ và Hạ tầng cứng với các cấu phần thành lập Sàn giao dịch công nghệ Hà Nội và Trung tâm Đổi mới sáng tạo Hà Nội, cơ chế mới cho phép định giá dữ liệu, định giá tài sản trí tuệ để góp vốn doanh nghiệp – điều mà trước đây các viện, trường vô cùng lúng túng do vướng Luật Quản lý, sử dụng tài sản công.
Từ khi có các Nghị quyết chuyên đề, theo ông thực tế đang áp dụng những chính sách này tại các doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học tại Hà Nội ra sao, thưa ông?
Qua quan sát thực tế triển khai, các chủ thể tại Hà Nội đang chủ động đón nhận cơ chế này với những chuyển dịch rõ rệt.
Tại các viện nghiên cứu, trường đại học, nhiều đơn vị lớn trên địa bàn Thủ đô như Trường Đại học Phenikaa, Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Quốc gia Hà Nội, cùng các phòng thí nghiệm tại Khu Công nghệ cao Hòa Lạc, đã đẩy mạnh các đề án nghiên cứu, phát triển các sản phẩm/công nghệ có khả năng ứng dụng vào thực tiễn.
Cùng với những chính sách những chính sách mới theo hướng tháo gỡ những vướng mắc về sở hữu trí tuệ, chuyển giao và thương mại hóa kết quả nghiên cứu đang tạo thêm thêm điều kiện để hình thành và phát triển doanh nghiệp spin-off (doanh nghiệp khởi nguồn, tách ra từ công ty mẹ), qua đó thúc đẩy nhanh hơn quá trình đưa kết quả nghiên cứu từ phòng thí nghiệm ra thị trường.
Tại các khối doanh nghiệp công nghệ, đến hết tháng 4/2026, Hà Nội ghi nhận hệ sinh thái phát triển mạnh mẽ với 221 doanh nghiệp khoa học công nghệ, hơn 10.000 doanh nghiệp công nghệ số và khoảng 1.000 doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo). Bên cạnh đó, Hà Nội cũng tập trung hơn 70% tổ chức khoa học và công nghệ, trường đại học, viện nghiên cứu của cả nước; 82% phòng thí nghiệm, trong đó có 14 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia..
Các startup thuộc lĩnh vực AI, Fintech đang tích cực tận dụng cơ chế Sandbox để thí điểm giải pháp trực tiếp tại các phường xã của Thủ đô nhằm hoàn thiện sản phẩm trước khi thương mại hóa thương mại rộng rãi.
Theo ông, cơ chế này có thể được nhân rộng ra các địa phương khác không?
Theo tôi, hoàn toàn có thể nhân rộng, nhưng cần có lộ trình phân nhóm. Bản chất 6 Nghị quyết này được xây dựng dựa trên bệ phóng là các điều khoản đặc thù mang tính "thí điểm" của Luật Thủ đô. Do đó:
Đối với các đô thị lớn (TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng) có thể kế thừa các chính sách vượt trội của Luật Thủ đô, áp dụng hoặc học tập mô hình, kinh nghiệm lập pháp ngay thông qua việc kiến nghị các Nghị quyết về các cơ chế, chính sách đặc thù của từng địa phương tương tự. (ví dụ: TP.Hồ Chí Minh đã ban hành các Nghị quyết khuyến khích đổi mới, sáng tạo triển khai Điều 30 và Điều 39 của Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16 thể hiện tư duy kiến tạo hệ sinh thái kinh tế tri thức, dịch chuyển trọng tâm từ "đô thị hóa hạ tầng vật chất" sang "đô thị hóa hàm lượng chất xám.”).
Những kết quả, cũng như những điểm còn vướng trong thực tiễn triển khai, có thể trở thành dữ liệu quan trọng để tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về phát triển đô thị
Đối với các địa phương khác nên "nhân rộng phân mảnh". Các tỉnh không cần sao chép toàn bộ cả 6 Nghị quyết, mà có thể chắt lọc các mô hình khả thi trước như: Quy trình đặt hàng bài toán công nghệ bám sát sản phẩm thế mạnh đầu ra của tỉnh (như nông nghiệp công nghệ cao, chế biến sâu) hoặc cơ chế trích lập/vận hành Quỹ phát triển khoa học công nghệ địa phương thông thoáng hơn.
Hà Nội đang đóng vai trò là "phòng thí nghiệm thể chế" lớn của cả nước. Khi mô hình vận hành ổn định và chứng minh hiệu quả, các cơ chế vượt trội này sẽ là cơ sở thực tế quan trọng để Trung ương sửa đổi các văn bản hướng dẫn luật chung (các Nghị định hướng dẫn Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo, Luật Chuyển giao công nghệ,…) áp dụng đồng bộ trên toàn quốc.
Xin trân trọng cám ơn ông!