Đổi mới giáo dục từ nghiên cứu đến năng lực tự học

Trước sự phát triển của AI và yêu cầu hội nhập, các trường đang đổi mới nghiên cứu, giảng dạy để giúp người học biết đánh giá thông tin, tư duy độc lập và tự học. Những hoạt động này cần gắn với bài học cụ thể, tạo cơ hội để học sinh, sinh viên vận dụng kiến thức.

Gắn nghiên cứu khoa học với thực tiễn giáo dục

Trí tuệ nhân tạo (AI) và công nghệ số đang thay đổi cách người học tìm kiếm thông tin, làm bài và tiếp nhận phản hồi. Với các trường sư phạm, những thay đổi này đặt ra nhiều vấn đề cần nghiên cứu: giáo viên lựa chọn công cụ nào, thiết kế bài học ra sao và đánh giá thế nào để nhận biết đúng năng lực học sinh.

baotintuc_tr_img-2817.jpg
GS.TS Huỳnh Văn Sơn, Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh chia sẻ nhiều thông tin về việc đổi mới giáo dục trong thời đại số.

Đây cũng là những vấn đề được đội ngũ cán bộ trẻ tại Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh và các trường sư phạm tập trung nghiên cứu. Trong 56 công trình được giới thiệu, nhiều đề tài đề cập đến ứng dụng AI, phát triển năng lực số, thiết kế học liệu, đổi mới phương pháp dạy học và bảo vệ dữ liệu cá nhân.

Theo GS. Tiến sĩ Huỳnh Văn Sơn, Hiệu trưởng nhà trường, công nghệ đặt ra nhiều câu hỏi mới, đòi hỏi các trường sư phạm chủ động nghiên cứu, đề xuất lời giải. Nghị quyết 57 về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Nghị quyết 71 về giáo dục, đào tạo là những định hướng để các trường đổi mới.

Ông Huỳnh Văn Sơn cho rằng, đóng góp của nghiên cứu không chỉ được nhìn nhận qua số lượng công bố mà còn ở khả năng kết nối nhà khoa học, duy trì hướng nghiên cứu dài hạn và đưa kết quả vào giảng dạy. Ông đề xuất thành lập nhóm nghiên cứu trẻ liên trường, liên ngành về AI trong dạy học, tâm lý học, khoa học giáo dục, STEM, đánh giá năng lực và quản trị giáo dục.

Theo ông Huỳnh Văn Sơn, mỗi nhóm cần có định hướng, đầu mối điều phối, kế hoạch sinh hoạt học thuật, nhiệm vụ nghiên cứu và sản phẩm cụ thể, để từ những cuộc trao đổi khoa học sẽ hình thành các nhóm nghiên cứu thật, có đề tài chung, dữ liệu chung và công bố chung.

Để duy trì các nhóm nghiên cứu liên trường, các trường có thể phối hợp biên soạn sách chuyên khảo, tài liệu đào tạo, bồi dưỡng giáo viên; xây dựng dự án quốc tế và chia sẻ chuyên gia. Cán bộ trẻ cần được các nhà khoa học giàu kinh nghiệm hướng dẫn từ thiết kế nghiên cứu, phân tích dữ liệu đến công bố quốc tế, đồng thời tuân thủ đạo đức nghiên cứu và sử dụng AI có trách nhiệm.

Nhu cầu hợp tác này càng rõ khi đề tài nghiên cứu mở rộng, kết nối giáo dục với công nghệ và đời sống. Chẳng hạn, nhóm tác giả Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng nghiên cứu ứng dụng AI trong bảo tồn, quảng bá di sản văn hóa Việt Nam. Nhóm tác giả Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh phân tích các công bố về học tập phục vụ cộng đồng trong giáo dục khoa học, từ đó nhận diện xu hướng quốc tế và gợi ý cách tiếp cận cho Việt Nam.

Từ những hướng nghiên cứu ấy, vấn đề tiếp theo là cách chuyển kết quả thành học liệu, phương pháp giảng dạy và hoạt động học tập. Đây cũng là nội dung được trao đổi tại Diễn đàn quốc tế “Hợp tác đổi mới và phát triển nguồn nhân lực xuyên quốc gia”, với bảy tham luận về dịch chuyển học thuật, giáo dục xuyên biên giới, đào tạo giáo viên, ứng dụng AI và hợp tác giáo dục STEAM.

Tiến sĩ Bùi Trần Quỳnh Ngọc, Phó Hiệu trưởng nhà trường, nhấn mạnh hợp tác quốc tế cần đem lại kết quả cụ thể trong đào tạo giáo viên, nghiên cứu và việc học của sinh viên. Những ý tưởng tại diễn đàn cần được phát triển thành hoạt động trao đổi học thuật, nghiên cứu chung và cải tiến giảng dạy.

baotintuc_tr_img-2988.jpg
Sinh viên trải nghiệm tại khu vực trưng bày các sản phẩm ứng dụng khoa học công nghệ.

Ông Park Ho Ryong, học giả Fulbright đến từ Đại học Murray State (Hoa Kỳ), cho rằng người học cần được chuẩn bị để giao tiếp, hợp tác và làm việc trong môi trường quốc tế. Bốn nhóm năng lực cần chú trọng gồm: năng lực số và ngôn ngữ; hiểu biết, ứng xử giữa các nền văn hóa; khả năng phục hồi, thích ứng; tư duy phản biện và phân tích.

Theo ông, năng lực số bao gồm tìm kiếm, đánh giá, sử dụng và tạo lập thông tin. Năng lực ngôn ngữ cần gắn với hiểu bối cảnh, giao tiếp phù hợp với những nền văn hóa khác nhau. Khi AI khiến công việc thay đổi nhanh, người học cần biết điều chỉnh phương pháp và tìm cách giải quyết những tình huống mới.

Các năng lực này có thể được rèn luyện ngay trong môn học hiện có, bằng cách đặt vấn đề trong nhiều bối cảnh văn hóa, khuyến khích sinh viên so sánh và tìm nhiều cách lý giải. Dạy học theo dự án, hợp tác quốc tế trực tuyến, thực tập quốc tế cũng giúp sinh viên vận dụng kiến thức và rèn kỹ năng làm việc chung.

GS. Hur Suhngjune, Hiệu trưởng Đại học Giáo dục Quốc gia Gwangju (Hàn Quốc), cho rằng AI có thể hỗ trợ cá nhân hóa việc học, phản hồi kịp thời, nghiên cứu liên ngành và ra quyết định dựa trên dữ liệu. Tuy nhiên, nhà trường phải đồng thời chú trọng liêm chính học thuật, trách nhiệm nghiên cứu và cách sử dụng AI.

Để giáo viên thực hiện được những thay đổi trong lớp học, việc bồi dưỡng cần gắn với thiết kế và thực hành bài dạy. Dự án hợp tác Việt Nam - Nhật Bản về giáo dục STEAM do GS. Nakaya Fumio, Đại học Osaka Kyoiku, chia sẻ là một ví dụ. Triển khai từ tháng 11/2023 với sự hỗ trợ của Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA), dự án tập trung khảo sát nhu cầu, xây dựng học liệu, thiết kế bài dạy mẫu và tổ chức thực hành để giáo viên cùng điều chỉnh cách dạy qua những vấn đề cụ thể.

Phía Nhật Bản đề xuất mở rộng dự án, gắn STEAM với văn hóa bản địa và giáo dục môi trường để học sinh vận dụng kiến thức giải quyết vấn đề tại nơi sinh sống.

Rèn tư duy độc lập từ việc đọc sách

Nếu ở bậc đại học, yêu cầu đổi mới thể hiện qua năng lực nghiên cứu, hợp tác và thích ứng của sinh viên thì tại trường phổ thông, nền tảng cần được hình thành từ khả năng chủ động tiếp nhận, phân tích và vận dụng tri thức. Trong môi trường có nhiều nguồn thông tin và công cụ hỗ trợ học tập, học sinh không chỉ cần biết tìm kiếm kiến thức mà còn phải biết chọn lọc, suy ngẫm và xây dựng quan điểm của riêng mình.

baotintuc_tr_img-3118.jpg
Học sinh Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong
thuyết trình về tác phẩm văn học mình yêu thích.

Tại Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong, phường Chợ Quán, TP Hồ Chí Minh, hoạt động ngoại khóa “Lan tỏa văn hóa đọc - Nơi trang sách cất lời” tạo cơ hội để học sinh chia sẻ cách đọc, cảm nhận tác phẩm. Chương trình do Tổ Ngữ văn tổ chức thu hút hơn 600 học sinh khối 10, với hơn 100 bài dự thi. Mười phần thi được chọn vào chung kết, qua các hình thức giới thiệu sách, cảm nhận tác phẩm, diễn kịch, sân khấu hóa văn học, vẽ tranh và thuyết trình.

Các em không chỉ kể lại tác phẩm mà còn đặt câu hỏi, liên hệ với trải nghiệm cá nhân. Qua “Totto-chan bên cửa sổ” của nhà văn Kuroyanagi Tetsuko, Ngô Sở Văn, lớp 10 CV1, suy ngẫm về tuổi thơ và niềm vui từ những điều bình dị.

Với “Sống mòn” của Nam Cao, Nguyễn Ngọc Như Ý, lớp 10 CV2, đặt vấn đề về sự giằng co giữa khát vọng sống và hiện thực cơm áo. Từ đó, em chia sẻ suy nghĩ về việc giữ ước mơ, phẩm giá trước thử thách.

baotintuc_tr_img-3131.jpg
Trưng bày các sản phẩm văn học các em học sinh tự làm.

Phạm Huy Hoàng, lớp 10CA3, cho rằng thế giới trở nên rộng lớn hơn từ cả những nơi con người đi qua lẫn những điều nhận ra trong cuộc sống thường ngày. “Thế giới không thiếu vẻ đẹp. Điều chúng ta cần là một tâm hồn đủ tinh tế để nhận ra, đủ lắng sâu để rung động và đủ yêu thương để biết gìn giữ”, Hoàng chia sẻ.

Qua “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam, Trần Minh Gia Bảo, lớp 10CA1, lại gửi gắm suy nghĩ về sức mạnh của ước mơ, hy vọng khi con người đối diện khó khăn.

Với những hoạt động trên, học sinh có dịp rèn tư duy độc lập, khả năng cảm thụ và giao tiếp khi đặt câu hỏi, liên hệ tác phẩm với đời sống và trình bày cách hiểu. Việc đọc vì thế còn giúp các em tập phân tích, trao đổi và bảo vệ quan điểm.

Đó cũng là điều Tổ Ngữ văn muốn khuyến khích qua chương trình. Theo cô Nguyễn Thị Ái Vân, Tổ trưởng, bên cạnh duy trì thói quen đọc và bồi dưỡng khả năng tự học, cảm thụ văn chương, các hoạt động sáng tạo, chia sẻ và biểu diễn còn giúp học sinh học hỏi lẫn nhau, gắn kết hơn trong trường.

baotintuc_tr_img-3166.jpg
Hoá thân thành nhân vật trong hoạt cảnh về tác phẩm "Hai đứa trẻ" của Nhà văn Thạch Lam.

Từ trải nghiệm học tập, An Mai, học sinh lớp 11CV2, từng đoạt giải Nhất chương trình tìm hiểu sách, lan toả văn hoá đọc năm 2025, cho biết đọc sách giúp em tích lũy vốn từ, bổ sung dẫn chứng cho các bài nghị luận phân tích và nghị luận xã hội. Đọc sách còn đem lại không gian để em đối thoại với chính mình, nhận ra những điều chưa từng chú ý và có thêm chủ đề trao đổi với bạn bè thông qua những cuốn sách cùng đọc.

Cô Bùi Thị Bảo Ngọc, Phó Hiệu trưởng Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong, cho rằng hoạt động góp phần đưa văn hóa đọc vào đời sống học đường, giúp học sinh tiếp cận tri thức chủ động, sáng tạo và nhân văn. Theo cô, việc học không chỉ đòi hỏi kiến thức, kỹ năng mà còn cần thái độ học tập đúng đắn; sách vừa mở rộng tri thức, vừa bồi đắp tâm hồn và phát triển năng lực tự học trong bối cảnh công nghệ, chuyển đổi số phát triển nhanh.

Từ nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế đến hoạt động đọc sách trong trường phổ thông, những cách tiếp cận khác nhau cùng hướng đến yêu cầu chuyển tri thức thành năng lực thực chất. Công nghệ có thể hỗ trợ tìm kiếm thông tin, cá nhân hóa việc học và mở rộng cơ hội hợp tác, nhưng không thể thay thế tư duy độc lập, khả năng đánh giá thông tin và sự chủ động của người học.

baotintuc_tr_img-3138.jpg
Học sinh hào hứng giao lưu, tương tác tại chương trình.

Vì vậy, đổi mới giáo dục trong kỷ nguyên số không nên chỉ được nhìn nhận qua mức độ ứng dụng công nghệ hay số lượng chương trình hợp tác. Điều quan trọng hơn là tạo điều kiện để giảng viên, sinh viên và học sinh biết nghiên cứu, đặt câu hỏi, trao đổi, sáng tạo và vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Khi những năng lực này được hình thành và bồi dưỡng xuyên suốt các cấp học, người học mới có nền tảng để thích ứng với những thay đổi hiện tại và tiếp tục học tập trong tương lai.

Hương Trần/Báo Tin tức và Dân tộc

Dành cho bạn

Sở Giáo dục và Đào tạo xây dựng đề kiểm tra định kỳ chung với lớp 5, lớp 9 và lớp 12

Sở Giáo dục và Đào tạo xây dựng đề kiểm tra định kỳ chung với lớp 5, lớp 9 và lớp 12

Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư số 89/2026/TT-BGDĐT sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định đánh giá học sinh Tiểu học ban hành kèm theo Thông tư số 27/2020/TT-BGDĐT ngày 04/9/2020; Quy định về đánh giá học sinh Trung học cơ sở và học sinh Trung học phổ thông ban hành kèm theo Thông tư số 22/2021/TT-BGDĐT ngày 20/7/2021 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giảng viên giáo dục nghề nghiệp

Bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giảng viên giáo dục nghề nghiệp

Nhằm triển khai bồi dưỡng, đánh giá và công nhận năng lực sư phạm cho nhà giáo giáo dục nghề nghiệp, đáp ứng những yêu cầu mới của hoạt động nghề nghiệp trong bối cảnh chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, đổi mới sáng tạo, bảo đảm và cải tiến chất lượng giáo dục, Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa đăng tải dự thảo Thông tư quy định Chương trình bồi dưỡng, đánh giá, công nhận năng lực sư phạm cho giáo viên, giảng viên giáo dục nghề nghiệp để lấy ý kiến góp ý của các cơ quan, tổ chức, cá nhân.