Kết nối vốn và công nghệ
Chiều 28/10, phiên tham luận và đối thoại chuyên sâu giữa lãnh đạo cấp bộ các nước diễn ra trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2026, với chủ đề “Khung hợp tác trong kỷ nguyên mới”. Các đại biểu tập trung phân tích những chuyển dịch kinh tế toàn cầu và đề xuất giải pháp kết nối nguồn lực phát triển.
Ông Denis Depoux, Giám đốc điều hành toàn cầu Roland Berger, nhận định tỷ lệ tín dụng trên GDP của Việt Nam ở mức 146% cho thấy nền kinh tế phụ thuộc lớn vào vốn vay ngân hàng. Trong khi đó, các dự án công nghiệp, đường sắt, cảng biển và năng lượng thường cần nguồn vốn dài hạn từ 20 đến 30 năm.
Ông Denis Depoux phân tích, các khoản vay có kỳ hạn 6 tháng hoặc vài năm khó đáp ứng phù hợp nhu cầu tài trợ cho dự án kéo dài hàng chục năm. Sự khác biệt giữa thời hạn huy động vốn và thời gian thu hồi vốn của dự án có thể tạo ra rủi ro chênh lệch kỳ hạn.
Ông Denis Depoux đề xuất Việt Nam tận dụng dư địa từ mức nợ công thấp để huy động nguồn vốn dài hạn với chi phí hợp lý, phục vụ các công trình hạ tầng trọng điểm. Cách tiếp cận này có thể giảm áp lực tài trợ hạ tầng dài hạn đối với hệ thống ngân hàng thương mại.
Các ngân hàng khi đó có điều kiện tập trung cung cấp vốn lưu động và tín dụng ngắn hạn, trung hạn cho doanh nghiệp. Theo ông Denis Depoux, Việt Nam cũng cần phát triển thị trường trái phiếu và chứng khoán để bổ sung nguồn vốn dài hạn, đa dạng hóa các kênh dẫn vốn cho nền kinh tế.
Ông Devendra Jain, Quản lý cấp cao phụ trách sản xuất tiên tiến và chuỗi cung ứng của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), nhận định Việt Nam đã hình thành hệ thống nhà máy, cảng biển và khu công nghiệp có sự kết nối. Tuy nhiên, các kết nối chủ yếu mới ở mức cơ bản, chưa đạt khả năng điều phối thông minh.
Theo ông, nhiều khâu trong chuỗi cung ứng còn hoạt động rời rạc, thiếu dữ liệu và công cụ trí tuệ nhân tạo (AI) dùng chung để phối hợp theo thời gian thực. Hạn chế này là một trong những nguyên nhân khiến chi phí logistics của Việt Nam chiếm khoảng 16% đến 17% GDP, cao hơn nhiều nền kinh tế phát triển.
Các doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng gặp khó khăn khi tiếp cận công nghệ. Phần lớn doanh nghiệp không đủ nguồn lực đầu tư mạng 5G công nghiệp, bản sao số hoặc mô hình AI riêng. Ông Jain dẫn số liệu cho thấy, tỷ lệ doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia chuỗi giá trị toàn cầu chỉ đạt 12%, trong khi nhóm doanh nghiệp lớn đạt 62%.
Ông Jain khuyến nghị TP Hồ Chí Minh thí điểm hệ thống điều phối logistics thông minh trên hành lang xuất khẩu từ các cụm sản xuất đến cụm cảng quốc tế Cái Mép và Thị Vải. Hệ thống cần tích hợp dữ liệu thời gian thực về hàng hóa, phương tiện, kho bãi, lịch tiếp nhận tại cảng và lịch tàu.
Các dữ liệu được kết nối sẽ hỗ trợ tối ưu điều phối, giảm thời gian chờ và chi phí logistics. Thành phố cần đầu tư hạ tầng số dùng chung để doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, có thể kết nối an toàn, giảm gánh nặng đầu tư ban đầu.
Giáo sư Matthieu Guitton, Đại học Laval, Canada, đề cập vai trò của quyền lực mềm trên không gian mạng trong kỷ nguyên AI. Ông cho rằng công nghệ giúp các quốc gia vượt qua giới hạn địa lý, lan tỏa ảnh hưởng và thu hút sự chú ý toàn cầu.
Theo ông, dân số trẻ, kinh tế tăng trưởng nhanh và năng lực công nghệ tạo lợi thế cho Việt Nam. Ông khuyến nghị Việt Nam xây dựng thương hiệu quốc gia trên không gian mạng, phát huy vai trò kết nối trong ASEAN, đồng thời ứng dụng AI và công nghệ số gắn với bảo đảm an toàn thông tin để tạo động lực tăng trưởng mới.
Nâng nội lực, mở hợp tác
Ở góc độ liên kết vùng, PGS.TS Lê Quốc Cường, thành viên Tiểu ban Khoa học và Công nghệ, Đổi mới sáng tạo và Chuyển đổi số thuộc Ban Nghiên cứu phát triển TP Hồ Chí Minh, đề xuất chuyển từ các khu công nghiệp biệt lập sang vành đai liên kết vùng đa cực.
Ông Lê Quốc Cường đặt tầm nhìn đưa TP Hồ Chí Minh trở thành siêu vùng khoa học công nghệ có sức cạnh tranh toàn cầu, với mục tiêu đến năm 2050 và tầm nhìn năm 2075. Định hướng này gắn với mục tiêu đưa thành phố vào nhóm 100 cụm công nghệ hàng đầu thế giới và đạt phát thải ròng bằng 0.
PGS.TS Lê Quốc Cường đề xuất 6 cực chức năng, gồm tri thức tại Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh; công nghệ cao tại Khu Công nghệ cao; sản xuất tiên tiến tại Bình Dương; tài chính và đổi mới sáng tạo tại Thủ Thiêm; logistics toàn cầu tại Cái Mép và Thị Vải; kinh tế xanh và biển tại Cần Giờ, Vũng Tàu.
Các cực chức năng được đề xuất kết nối bằng 6 lớp hạ tầng, phục vụ lưu thông sáu dòng nguồn lực. Mô hình hướng tới tăng cường trao đổi tri thức, công nghệ, vốn và dữ liệu, phát huy khả năng bổ trợ giữa các khu vực.
Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng cho biết, hiện nay nền kinh tế toàn cầu đang tái cấu trúc sâu sắc dưới tác động của chuyển đổi kép và sự dịch chuyển các cực tăng trưởng. Các nước đang phát triển cần chủ động nâng cao nội lực, từng bước tham gia trực tiếp vào quá trình hình thành những chuỗi giá trị mới. Thực tế, việc hợp tác quốc tế trong kỷ nguyên mới là điều kiện cần thiết để các quốc gia phát triển. Các bên cần chuyển tinh thần hợp tác thành chính sách, chương trình và dự án thực chất, dựa trên sự chia sẻ lợi ích và khả năng bổ trợ nguồn lực.
Phó Thủ tướng cũng đưa ra bốn hướng đi chiến lược để chuyển hóa cơ hội thành tăng trưởng và thịnh vượng đối với các quốc gia. Theo đó, các quốc gia cần xây dựng năng lực nội sinh về nhân lực, công nghệ và quản trị; hoàn thiện thể chế minh bạch, tạo không gian thử nghiệm cái mới; tăng cường kết nối đa phương; huy động hiệu quả tài chính xanh và công nghệ gắn với liên kết doanh nghiệp trong nước.
Phó Thủ tướng đề nghị các đơn vị cần nắm bắt xu hướng đang định hình dòng vốn, công nghệ và chuỗi cung ứng để tìm kiếm các cơ hội đầu tư. Khi đầu tư, cũng cần dự báo các cơ hội, rủi ro đối với việc đầu tư, cần xác định hành động cụ thể để hiện thực hóa các giải pháp giúp phát triển kinh tế của các quốc gia.
Mặt khác, các quốc gia cần chủ động nâng cao năng lực để nắm bắt những cơ hội từ quá trình chuyển dịch kinh tế toàn cầu. Các khuôn khổ hợp tác phải hướng tới kết quả thực chất, tạo nền móng kết nối vững chắc giữa các cực tăng trưởng, đưa nguồn lực và sáng kiến thành động lực phát triển.