Đã 36 năm trôi qua kể từ ngày quần đảo Trường Sa được hoàn toàn giải phóng, nhưng ký ức về trận đánh thì nguyên vẹn như mới hôm qua. Thắng lợi của mũi tiến công thần tốc giải phóng Trường Sa không chỉ thể hiện tinh thần chiến đấu kiên cường anh dũng, mà còn là khát vọng hòa bình của bộ đội hải quân Việt Nam trong sự nghiệp bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển.
Cuộc hành quân khẩn cấp
Đêm ngày 10/4/1975, từ bến cảng Sơn Trà Đà Nẵng, “đoàn tàu đánh cá” gồm 3 chiếc nhổ neo ra khơi. Tàu không lớn, mang cờ hiệu, trên mặt boong chỉ lác đác vài người đi lại như những thủy thủ đánh cá. Đó là các tàu 673, 674, 675 của Đoàn vận tải 125 Hải quân, những con tàu “không số” đã nổi tiếng với “Đường Hồ Chí Minh trên biển”. Trong bụng những con tàu đó chứa gần 300 chiến sĩ Đội 1, Đoàn 126 đặc công Hải quân cùng các lực lượng Quân khu 5 và hàng tấn đạn dược.
Trên boong tàu 675, lúc ấy Trung tá Mai Năng là Đoàn trưởng Đoàn M26 - người được giao nhiệm vụ chỉ huy giải phóng quần đảo Trường Sa trầm ngâm suy nghĩ tới nhiệm vụ đồng chí Hoàng Hữu Thái, Phó tư lệnh Hải quân giao cho đơn vị trước ngày đi : “Chúng ta phải bằng bất cứ giá nào, tranh thủ thời cơ có lợi giải phóng quần đảo Trường Sa”. Đồng chí Phó tư lệnh nhấn mạnh: Trận này ta không thể đánh theo cách của đặc công nước, phải đánh “trinh sát vũ trang”, có chỗ phải dùng hỏa lực, khi giải phóng rồi phải tổ chức lực lượng phòng thủ đảo. Rồi ông nghĩ đến những khó khăn sắp phải đối mặt, tuy là lực lượng đặc công nước, nhưng anh em hầu hết là lính mới, chưa từng trải qua chiến đấu.
Mũi tiến công giải phóng đảo Trường Sa của bộ đội hải quân. Ảnh: tư liệu |
Đội hình tàu 673, 674, 675 vượt sóng xa khơi trong bạt ngàn giông tố. Những đợt sóng lừng vô tận, liên tiếp như muốn vùi dập những con tàu nhỏ bé xuống biển sâu, hất lên cao, rồi lại vùi xuống. Hầu hết anh em đều bị say sóng. Để bảo đảm bí mật, cán bộ chiến sĩ trên tàu 675 lúc đó phải ẩn giấu trong khoang kín, vừa bị say sóng, vừa thiếu không khí, nên mọi người ai cũng mệt nhoài.
Sau 2 ngày hải trình khẩn cấp, ngày 12/4/1975, tàu 675 đến vùng biển đảo Song Tử Tây. Khi khoảng cách rút gần còn 40 hải lý, Trung tá Mai Năng mở tấm hải đồ Trường Sa, trỏ tay vào một điểm, dõng dạc: “Đây là đảo Song Tử Tây, chúng ta hiện đang ở tọa độ này … Tàu sẽ vào cách đảo 4 hải lý. Nếu điều kiện cho phép cứ vào sát nữa, vòng quanh đảo tìm vị trí đổ bộ”. Mệnh lệnh đanh thép từ người chỉ huy dày dạn trận mạc như tiếp thêm sức mạnh chiến đấu cho từng chiến sĩ. Hướng về phía Đội trưởng đội 1 Nguyễn Ngọc Quế – người được giao nhiệm vụ trực tiếp chỉ huy bộ đội giải phóng đảo Song Tử Tây, Trung tá Năng nói: “Đồng chí cứ theo phương án đó mà thực hiện”.
Sau khi cho tàu trinh sát vòng ngoài quanh đảo, xác định rõ vị trí tiến công, những yếu tố bí mật bất ngờ, những khó khăn thuận lợi, 7 giờ sáng ngày 13/4/1975, Nguyễn Ngọc Quế báo cáo, xin thông qua phương án tác chiến. Sau khi cấp trên đồng ý, Quế chỉ huy đưa tàu vào cách đảo 3 hải lý, quan sát, lượn đủ một vòng tròn quanh đảo, vẽ cảnh đồ, tìm điểm đổ bộ. Nguyễn Ngọc Quế quyết định: Hướng đổ bộ lên đảo là hướng tây nam nơi có bãi cát phẳng và đá san hô. Lưu ý, ngoài khơi cách đảo 20 hải lý về phía tây có tàu tuần dương hạm của quân đội Sài Gòn HQ-16, khu trục hạm HQ-13, HQ-14, tàu đổ bộ LST… đang đậu quanh các đảo.
Chiến công đầu tiên
1 giờ sáng ngày 14/4/1975, lực lượng ta đã đi vào khu vực cách Song Tử Tây 3 hải lý. Tất cả đã sẵn sàng. Anh em tập trung lên hết mặt boong. Một khí thế hừng hực, khẩn trương quyết chiến, mong bước vào trận đánh, quyết tâm giành thắng lợi, giải phóng đảo, thể hiện trên từng gương mặt chiến sĩ . Ba mũi tiến công tiếp cận đảo do Nguyễn Ngọc Quế, Đào Mạnh Hồng và Hoàng Văn Trịnh chỉ huy. Các ông đều là các chiến sĩ đặc công nước nổi tiếng với những trận đánh tàu, đánh cầu năm xưa. Tất cả đều hướng về phía đảo. Nhìn từ phía biển, đảo Song Tử Tây là đảo san hô khá lớn “bập bềnh” trong sóng lớn. Trên đảo phát ra vài quầng sáng yếu ớt của mấy ngọn đèn bảo vệ trên từ các lô cốt. “Cho thả xuồng”- mệnh lệnh chiến đấu vang lên. Tàu 673 quay mũi về hướng bắc để giữ bí mật, chọn chiều gió, hướng sóng thuận lợi cho đổ bộ. Tàu 674, 675 ở phía tây và phía bắc đảo tiếp ứng cho quân đổ bộ, sẵn sàng đánh chặn tàu địch từ phía ngoài.
Tàu 673, 674, 675 ra giải phóng Trường Sa năm 1975. Ảnh: Tư liệu |
Tiếng kêu rin rít của những ròng rọc phát ra khi hạ xuồng đổ bộ, làm nóng thêm khí thế chiến đấu đang hừng hực sục sôi. Lúc này, thủy triều đang lên, xuồng tiếp cận đảo có phần thuận lợi, nhưng cũng phải mất vài giờ vật lộn với sóng dữ , nước xoáy, ta mới tiếp cận được đảo. 38 cán bộ, chiến sĩ phân đội 1 bí mật đổ bộ, bí mật bò sát mép đảo, tiếp cận các mục tiêu. Đại đội trưởng Quế hạ lệnh nổ súng DKZ bắn thẳng vào lô cốt địch và phát lệnh hiệp đồng chiến đấu. Những tiếng hô “xung phong” vang dậy khắp đảo. Hỏa lực của ta tới tấp nã vào các mục tiêu. Bị tấn công bất ngờ, địch chống trả quyết liệt, đại liên từ các lô cốt bắn ra như mưa. B40, B41 của ta tập trung bịt họng các ổ đề kháng của địch. Ta nhanh chóng đánh chiếm sở chỉ huy của địch và làm chủ điện đài, cuộc chiến ác liệt diễn ra oanh liệt ngay trên đảo . Thừa thắng các chiến sĩ tiếp cận các vị trí thuận lợi, dồn địch vào cuối đường giao thông hào, những tiếng loa gọi hàng vang lên. Biết không thể cố thủ mãi trong hầm hào công sự, đối phương đã giương cờ trắng xin hàng. Phía đường hào cuối đảo, những khuôn mặt phờ phạc ngơ ngác của kẻ thất trận, cầm cờ trắng, đưa tay lên xin đầu hàng vô điều kiện.
Lá cờ của mặt trận giải phóng miền Nam Việt Nam được chiến sĩ Lê Xuân Phát kéo lên đỉnh cột cờ trước bia chủ quyền, tung bay trên đảo Song Tử Tây. Lúc đó là 5giờ 15 phút ngày 14/4/1975, Trường Sa được giải phóng hoàn toàn.
Mai Thắng
Kỳ 3: Vượt sóng xây đảo