|
Cuộc chiến đấu giữa tàu không số mang mật hiệu 235 do Trung úy thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh và 7 tàu địch trên vùng biển Hòn Hèo tỉnh Khánh Hòa tháng 3 năm 1968 là cuộc chiến đấu không cân sức. Sự hi sinh anh hũng của thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh và các thủy thủ đã trở thành bất tử, là đỉnh cao của đức hi sinh vì Tổ quốc và nền độc lập dân tộc. Nguyễn Phan Vinh - tên anh đã thành tên đảo nhỏ giữa vùng biển bão tố - Trường Sa.
Chiến đấu đến cùng
Để chi viện vũ khí đạn dược cho chiến trường miền Nam và góp phần đánh vào sào huyệt cuối cùng của Ngụy quyền Sài Gòn, giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc, tàu không số mang mật hiệu 235 do Trung úy thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh đã được lệnh rời bến chở 14 tấn vũ khí thuốc men vượt biển chi viện cho chiến trường Khu 5. Đây là thời gian diễn ra cuộc chiến đấu quyết liệt nhất trên các chiến trường miền Nam đánh Mỹ.
Đảo Phan Vinh vững vàng giữa ngàn khơi. |
Đêm 30 rạng ngày mồng một Tết Mậu Thân (ngày 31/1/1968) cuộc tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân ta ở miền Nam đồng loạt nổ ra. Để phối hợp với các chiến trường trên bộ, Quân chủng Hải quân nhận lệnh chuẩn bị 4 tàu chở vũ khí xuất phát cùng một đêm ở 4 vị trí khác nhau và sẽ vào 4 bến khác nhau để đánh lạc hướng địch.
Tàu nào không vào được bến thì nghi binh thu hút địch cho tàu khác vào. Tàu 235 do Trung úy Nguyễn Phan Vinh làm thuyền trưởng nhận nhiệm vụ vận chuyển 14 tấn vũ khí, đạn dược chi viện cho quân và dân Khánh Hòa. Ngày 27/2/1968, tàu 235 bí mật rời bến vượt biển thẳng hướng vào phía Nam. Tàu có 21 cán bộ, chiến sĩ: Chính trị viên Nguyễn Tương, thuyền phó 1: Đoàn Văn Nhi; thuyền phó 2: Võ Tá Tu; máy trưởng: Trương Văn Mùi; thợ máy: Ngô Văn Thứ, Nguyễn Minh Hải, Trần Lộc; thợ điện: Lê Duy Mai; báo vụ: Phạm Trường Nam, Doãn Quang Ruyện; rađa: Trần Thọ Thuyết; thủy thủ: Ngô Văn Dầu, Nguyễn Văn Phong, Hà Minh Thật, Đào Quang Ty; hàng hải: Mai Văn Khung, Lâm Quang Tuyến; y tá: Hoàng Văn Hòa; cơ yếu: Nguyễn Văn Dũng và chiến sĩ thợ máy Long An.
Sau hai ngày đêm hành quân trên vùng biển quốc tế, đúng 18 giờ ngày 29/2/1968, tàu 235 đến ngang vùng biển Nha Trang, thì phát hiện máy bay trinh sát địch lượn 3 vòng quanh tàu rồi mất hút. Thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh nhận định: Máy bay của địch lượn 3 vòng kỹ như thế là trinh sát tàu ta và cũng đồng nghĩa với tàu ta bị địch phát hiện. Thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh hạ lệnh: “Tất cả sẵn sàng chiến đấu. Tàu tăng tốc chuyển hướng vào bờ, chuẩn bị thả hàng khẩn cấp”.
1 tiếng trôi qua, 2 tiếng trôi qua căng thẳng, tất cả các thủy thủ trên tàu đều sẵn sàng chiến đấu. Trong màn biển đêm đen đặc, tàu 235 đè sóng lướt tới. Sau khi máy bay địch trinh sát báo về sở chỉ huy “Tàu Việt cộng giả dạng”, ngay lập tức chúng đã điều 3 tàu là Ngọc Hồi, HQ12, HQ617 và 4 chiếc khác gấp rút lao thẳng về phía tàu ta. Chúng dàn hàng ngang rồi tạo thế gọng kìm hòng bắt sống các thủy thủ trên tàu. Biết tàu đang bị truy đuổi và bao vây, nhưng các chiến sĩ vẫn bình tĩnh chiến đấu. Thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh đã hạ lệnh thả khói mù, tăng tốc tối đa, luồn lách qua tàu địch, áp sát bờ, đồng thời thả hàng dọc ven bờ để lực lượng tiếp nhận mò sau. Khi cách Hòn Hèo chừng 6 hải lý thuộc xã Ninh Phước, huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa, những tấn hàng được thả xuống biển. Tiếng thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh đanh thép trên ca - bin “Đây là phút giây quyết tử, chúng ta quyết không để những tấn hàng rơi vào tay địch. Tất cả phải chiến đấu đến hơi thở cuối cùng”.
Chiến sĩ đảo Phan Vinh hát múa cùng văn công. Ảnh: MT |
Phía bên ngoài các tàu địch di chuyển khép chặt vòng vây. Trên không chúng huy động máy bay lên thẳng vũ trang yểm trợ. Cuộc chiến không cân sức diễn ra quyết liệt. Phía trước là núi, phía sau là 7 tàu địch ngăn chặn lối ra, tàu 235 ở vào tình thế vô cùng khó khăn. Trên trời, máy bay địch thả pháo sáng.
Đèn pha các tàu địch tập trung chiếu sáng để các loại hỏa lực bắn xối xả. Mặt biển mịt mù lửa đạn. Trên trời bom dội xuống, 4 phía đạn địch bắn xối xả, thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh vẫn bình tĩnh chỉ huy các thủy thủ vừa kiên cường đánh trả địch, vừa cho tàu chạy sát vào gần bờ hơn. Các loại súng 12,7 ly được các chiến sĩ sử dụng bắn trả tàu địch. Một số thủy thủ đã hy sinh ngay trên boong tàu sau một đợt tàu địch bắn rốc két và súng đại liên.
Đúng lúc ác liệt nhất thì máy tàu hỏng nặng, thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh bị một mảnh đạn bắn sượt qua đầu. Biết không thể thoát khỏi vòng vây của địch được nữa, Nguyễn Phan Vinh hội ý với anh em và ra quyết định hủy tàu để không lọt vào tay địch. Thuyền trưởng Vinh cho tất cả anh em bơi vào bờ trước, còn anh và thợ máy Ngô Văn Thứ ở lại chuẩn bị các loại kíp nổ và trực tiếp điểm hỏa khối thuốc nổ, hủy tàu rồi bình thản nhảy xuống nước bơi vào bờ. Chiến sĩ An được giao nhiệm vụ nếu tàu không nổ phải quay lại kiểm tra các kíp nổ và sẵn sàng hi sinh. 20 phút sau, lúc 2 giờ 40 phút, ngày 1/3/1968, một cột lửa bùng lên, kế đó là tiếng nổ dữ dội, chấn động tới Nha Trang.
Sức công phá của khối thuốc nổ khiến tàu 235 đứt đôi, một nửa chìm trong nước, một nửa văng lên lưng chừng núi Bà Nam, xã Ninh Vân. Biết “Việt cộng” đang co cụm ở chân núi Bà Nam, địch đã gọi máy bay đến bắn phía ven biển, nhằm dọn đường cho bộ binh bao vây, bắt sống các thủy thủ tàu 235. Số thủy thủ rút lên bờ còn lại 9 người. Địch lập tức đổ quân lùng sục. Thuyền trưởng Vinh và thợ máy Thứ đã chỉ huy anh em kiên cường chống trả, đánh lui nhiều đợt tấn công của địch. Biết là sẽ hi sinh tại núi Hòn Hèo, nhưng Nguyễn Phan Vinh vẫn bình tĩnh động viên, chỉ huy các chiến sĩ chiến đấu đến viên đạn cuối cùng và các anh đã hi sinh tại đây.
Trận chiến đấu kiên cường của cán bộ, thủy thủ tàu 235 đã đi vào huyền thoại, là dấu son chói lọi của Hải quân Nhân dân Việt Nam anh hùng. Với chiến công phi thường ấy, ngày 25/8/1970, liệt sỹ Nguyễn Phan Vinh được Đảng và Nhà nước truy tặng danh hiệu cao quý Anh hùng LLVTND. Nhân kỷ niệm 15 năm ngày giải phóng quần đảo Trường Sa (29/4/1990), tên người thuyền trưởng tàu 235 quả cảm ấy đã thành tên đảo Phan Vinh trong quần đảo Trường Sa giữa ngàn khơi đầy bão tố.
Niềm tự hào Phan Vinh
Tôi đã nhiều lần đến Trường Sa, đã đi chân trần trên sỏi đá ở đảo Phan Vinh vào mùa biển lặng tháng tư hằng năm, lần nào cũng không kìm được xúc động, khi được chính các chiến sĩ ở hòn đảo nhỏ này kể câu chuyện về sự hi sinh kiên cường của liệt sĩ Nguyễn Phan Vinh. Chiến sĩ trẻ Trần Văn Quyết, quê ở Đất đỏ Bà Rịa - Vũng Tàu nói với chúng tôi “Chúng em luôn tự hào về Nguyễn Phan Vinh người thuyền trưởng của Đoàn tàu không số - hòn đảo duy nhất mang tên người anh hùng này, chúng em tự hào về điều đó”.
| Nói đến Đoàn tàu không số, không thể không nhắc đến công lao nhiệt huyết của nữ chiến sĩ Nguyễn Thị Mười ở tiểu đoàn 555 thuộc Trung đoàn Minh Đạm đóng quân ở làng chài Phước Hải năm xưa - người đã hiến hơn 20 cây vàng mua gỗ đóng thuyền để con trai mình và đồng đội vượt biển ra Bắc. Cuộc đời bà gắn liền với những lần tải đạn, góp phần vào thắng lợi của chiến dịch Bình Giã từ năm 1961 đến năm 1963. Câu chuyện về Má Mười Riều hiến hơn 20 cây vàng để mua gỗ đóng tàu, là một huyền thoại đẹp đẽ, hiện thân sức mạnh của người Phụ nữ Việt Nam. |
Thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh cùng 14 đồng đội thân yêu đã anh dũng hy sinh trên vùng biển Hòn Hèo. Khi ấy Nguyễn Phan Vinh mới ở tuổi 35. Sự hy sinh của anh đã trở thành bất tử trong lòng những người lính biển và quân dân cả nước. Tên tuổi Nguyễn Phan Vinh và 14 chiến sĩ hải quân đã hy sinh tại biển Hòn Hèo năm 1968 được tạc vào đảo Phan Vinh như nhắc nhở thế hệ cán bộ, chiến sĩ hôm nay và mai sau nêu gương sống, chiến đấu và sẵn sàng hy sinh bảo vệ vùng biển, vùng trời của Tổ quốc.
Tự hào hòn đảo mang tên người anh hùng, nhiều thế hệ cán bộ, chiến sĩ trên đảo Phan Vinh luôn nỗ lực vượt mọi khó khăn, thử thách để hoàn thành tốt nhiệm vụ nơi đầu sóng ngọn gió và quyết tâm giữ đảo dù phải hi sinh đến tính mạng của mình. Hôm đoàn công tác chúng tôi ra thăm được chia làm hai nhóm để đến với anh em trên cả 2 điểm đảo Phan Vinh A và Phan Vinh B. Khi đặt chân lên cầu cảng, tất cả cán bộ, chiến sĩ đã chờ sẵn trên bờ từ khi nào. Sau những cái bắt tay siết chặt, những lời thăm hỏi thân tình, là khoảng lặng xúc động khi đoàn trưởng công tác kể câu chuyện về sự hi sinh quên mình của liệt sĩ Nguyễn Phan Vinh. Tất cả các nữ văn công đều khóc, còn chúng tôi ngậm ngùi chẳng nói nên lời. Tôi còn nhớ như in lời nói của chiến sĩ Nguyễn Hùng Hiền “Trong gian khổ mới thấy đức hi sinh, trong gian nguy mới hiểu tình đồng đội. Thế hệ chúng tôi biết ơn anh Vinh bao nhiêu, thì càng quyết tâm giữ đảo bấy nhiêu. Phan Vinh luôn là niềm tự hào của những người lính biển”.
Đảo Phan Vinh hôm nay xanh tươi bởi trăm loài cỏ cây hoa lá và đời sống bộ đội được cải thiện nhờ có điện từ nguồn năng lượng mặt trời. Dù ở biển, dù ở sông hay lênh đênh trên những con tàu vượt sóng ngàn khơi, cán bộ chiến sĩ đảo Phan Vinh đang ngày đêm vững vàng tay súng bảo vệ từng tấc đảo, sải sóng thiêng liêng của Tổ quốc.
Mai Thắng
Kỳ 10: Mười Riều, bà má huyền thoại