Đại tá Trần Phong, nguyên quyền chỉ huy trưởng đoàn tàu không số. |
Địa điểm lịch sử đầy khói lửa trong công cuộc vận chuyển vũ khí cho miền Nam đánh Mỹ bằng đường Hồ Chí Minh trên biển là Vũng Rô. Nhắc tới Vũng Rô, người ta liên tưởng ngay đến những trận chiến khói lửa, quả cảm của đoàn tàu không số. Nơi ấy đã đổ bao máu xương của các chiến sĩ hải quân, là điểm tựa chiến lược quan trọng của đoàn tàu không số”. Đại tá Trần Phong, nguyên quyền chỉ huy trưởng đoàn tàu không số nói với tôi như thế.
Nhiệm vụ đặc biệt
Cuối năm 1964, cuộc chiến đấu của quân và dân Khu 5 vô cùng khốc liệt. Để khẩn trương chi viện vũ khí đạn dược, thuốc men và lực lượng cho chiến trường Khu 5, Quân ủy Trung ương chỉ thị cho Quân chủng Hải quân bí mật, tìm luồng mở thông bến mới ở vị trí thuận lợi với 2 điều kiện: Vừa phải bảo đảm an toàn, bí mật, thuận lợi vận chuyển vũ khí; vừa gần đoạn đường với chiến trường Khu 5. Trước tình hình đó, Đảng ủy Quân chủng Hải quân đã chỉ định tàu không số có biệt hiệu 41 của Lữ đoàn 125 có nhiệm vụ vận chuyển vũ khí cho Khu 5.
Vũng Rô ngày xưa, nay là con đường chạy dài và bến cảng sầm uất. |
Vũng Rô ngày ấy là một địa bàn hiểm trở. Một bên là núi cao chạy dài dích dắc ôm lấy vùng ven thưa thớt, một bên là các bãi cạn, làng chài, sườn đồi và rừng nguyên sinh, giữa là vịnh sâu thăm thẳm. Đây là địa thế rất thuận lợi trong chỉ huy tác chiến quân sự, tiện cho việc bí mật và nghi binh các trận đánh. Sau một thời gian bí mật trinh sát, Đảng ủy Lữ đoàn 125 nhận định: Vũng Rô là vùng biển trọng yếu có thể bảo đảm bí mật, tiện vận chuyển, bốc dỡ hàng, cơ động tàu thuyền, bởi một bên là núi cao, một bên là ven rừng và dân cư, giữa là lòng vịnh. Các chuyến hàng vượt biển đến đây, vừa bí mật chuyển hàng lên bến Lộ Giao (Bình Định), nhưng chủ yếu sẽ chuyển hàng vào Vũng Rô (Phú Yên), vì khoảng cách quãng đường từ Vũng Rô đến chiến trường Khu 5 gần hơn, bí mật và an toàn hơn.
Chiều 28 tháng 11 năm 1964, trời rét căm căm, cơn gió mùa đông bắc không làm các chiến sĩ chùn bước. Trái lại họ càng quyết tâm vượt biển đến Vũng Rô. Trước giờ xuất phát, đồng chí Tư lệnh Hải quân giao nhiệm vụ cho tàu 41 trong xúc động, ông nói: “Có thể chuyến đi này các đồng chí không trở về nữa, chúng tôi sẽ không được gặp các đồng chí, nhưng chúng tôi hi vọng điều ấy sẽ không xảy ra. Bộ Tư lệnh Quân chủng tin tưởng các đồng chí sẽ hoàn thành nhiệm vụ và trở về mạnh khỏe”. Lời nói của đồng chí Tư lệnh như tiếp thêm luồng máu nóng cho cán bộ chiến sĩ tàu 41. Họ bước xuống tàu ra đi và sẵn sàng hi sinh, ai cũng nói mình sẽ trở về, dẫu trong suy nghĩ có thể mình sẽ không bao giờ trở về nữa.
Con tàu sắt nhỏ bé chở 44 tấn vũ khí dưới sự chỉ huy của thuyền trưởng Hồ Đắc Thạch và chính trị viên Trần Hoàng Chiếu đi trong màn đêm sóng lớn và ngược gió. Chính trị viên Trần Hoàng Chiếu động viên các chiến sĩ: “Đây là chuyến đi đặc biệt của chúng ta. Những tấn vũ khí này nhất định sẽ được chuyển vào Khu 5, đây là những tấn vũ khí thấm đẫm mồ hôi, máu và tuổi xuân của chúng ta. Thà hi sinh để nhất định đưa vũ khí vào Vũng Rô an toàn”.
Lời động viên của chính trị viên như thấm vào gan ruột từng người. Càng khó khăn gian khổ, các chiến sĩ càng mài sắc ý chí, quyết tâm chuyển vũ khí cho chiến trường và sẵn sàng chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Một qui ước đã được quán triệt và coi đó như mệnh lệnh bất di bất dịch. Nếu thuận lợi sẽ khẩn trương chuyển vũ khí vào bến cho lực lượng tiếp nhận. Nếu bị địch phát hiện, thả hàng xuống biển, đánh dấu tọa độ thả hàng, hủy tàu và hi sinh.
Bữa “tất niên” đang dở
Sau ba ngày vật lộn với sóng to gió lớn và luồn lách qua các trạm kiểm soát, bố phòng, phục kích của địch, chiều 30 tháng 11 năm 1964, tàu 41 vào đến cửa biển Phú Yên. Trong khi chờ trời tối, tàu đã tổ chức đón “tất niên” sớm cho các chiến sĩ. Gọi là đón “tất niên”, nhưng thực chất là tổ chức bữa ăn tươi. Để có bữa “tất niên” tươm tất, các chiến sĩ đã giả làm ngư dân đánh cá, thả câu tại chỗ, vừa quan sát tình hình địch, vừa quan sát thực tế địa hình Vũng Rô.
Bia di tích ghi nhớ những chuyến tàu chở hàng vào Vũng Rô. |
Trong khi các chiến sĩ đang dùng bữa cơm “tất niên” trên boong tàu, thì chiến sĩ trực canh báo cáo: “Mạn phải 30 độ, cự li 3 hải lý, phát hiện hai tàu địch di chuyển về phía Nam!”. Thuyền trưởng Hồ Đắc Thạch lệnh: “Tất cả về vị trí chiến đấu theo phương án 1”. Các chiến sĩ nhanh chóng cơ động vào vị trí chiến đấu. Toàn bộ khối vũ khí 44 tấn được ngụy trang chu đáo bí mật và sẵn sàng dùng tác chiến được ngay. Qua ống nhòm, thuyền trưởng Hồ Đắc Thạch nhìn thấy 2 tàu tuần tiễu của địch đang di chuyển nhanh về phía tàu 41. Thuyền trưởng Thạch nhận định: Nếu là tàu tuần tiễu thì việc tiến về hướng mình là bình thường. Trong khi tàu ta chưa bị phát hiện phải nhanh chóng cho tàu vòng tránh sự kiểm soát kẻo không còn kịp nữa. Ngay lập tức, mệnh lệnh tàu chuyển hướng về hướng Bắc được phát đi. Tàu 41 lao vun vút trong ánh hoàng hôn cuối chiều. Khi khoảng cách giữa tàu 41 với 2 tàu địch xa dần và an toàn, các chiến sĩ thở phào nhẹ nhõm “Coi như chuyến hàng đầu tiên đã hoàn thành” và bữa “tất niên” được tiếp tục.
| Trong chuyến chở vũ khí chi viện cho chiến trường miền Nam ngày 24/12/1964, tàu không số mang mật hiệu 645 đã “chạm trán” với tàu địch trên vùng biển hải phận quốc tế phía Tây Nam Tổ quốc. Câu chuyện kể về người chính trị viên - Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Hiệu, lệnh cho 17 cán bộ chiến sĩ nhảy xuống biển bơi vào bờ bảo toàn tính mạng, còn mình ở lại dựt bộc phá hủy tàu và hi sinh đã trở thành bất tử, vẫn vẹn nguyên như mới hôm qua trong ký ức ông Lê Hà - nguyên là thuyền trưởng tàu 645 ngày ấy. |
Sau gần 7 tiếng tăng tốc thoát khỏi sự kiểm soát của tàu địch, đúng 23 giờ 50, tàu 41 cập bến Vũng Rô. Thuyền trưởng Thạch đã nhanh chóng chỉ huy bộ đội bí mật bắt liên lạc với lực lượng tiếp nhận trên bờ. Qua ánh đèn pin loang loáng, nước mắt thuyền trưởng Thạch chảy dài, giọng ông nghèn nghẹn nói với đồng chí Sáu Thu là người chỉ huy tiếp nhận vũ khí chuyển về Khu 5: “Bây giờ chúng tôi đã yên tâm rồi. Những tấn vũ khí này là máu và nước mắt của quân, dân miền Bắc chi viện cho Khu 5 đánh Mỹ. Trận chiến này có cả công sức lớn của cán bộ chiến sĩ tàu 41 chúng tôi”. Đồng chí Sáu Thu chẳng nói nên lời, nước mắt ông trào ra ôm lấy người thuyền trưởng.
44 tấn vũ khí đạn dược đầu tiên đã trót lọt chi viện cho chiến trường Khu 5. Thừa thắng, tàu 41 tiếp tục vận chuyển vũ khí vào Vũng Rô lần thứ 2, thứ 3, cả 3 chuyến đi đều giành thắng lợi. Nói về thắng lợi của tàu 41 vào Vũng Rô, Đại tá Trần Phong tự hào: “Việc Lữ đoàn 125 Hải quân mở bến vũ khí vào Khu 5 cuối năm 1964 đầu năm 1965 có ý nghĩa vô cùng to lớn. Nhờ có vũ khí đạn dược, mà Bộ Tư lệnh Quân khu 5 đã mở chiến dịch Đông Xuân 1964-1965 thu được nhiều thắng lợi. Phải nói thật, nếu không có những tấn vũ khí của tàu 41 ngày ấy chi viện, thì chiến dịch Đông Xuân không thắng lợi giòn giã như vậy”.
Mai Thắng
Kỳ 8: Sông núi vang tên người anh hùng