Những câu chuyện về Đường Hồ Chí Minh trên biển - Kỳ 4: Cuộc vượt biển đẫm nước mắt

Chỉ bằng chiếc ghe mui trần, không la bàn từ dẫn, hành trang của 6 chiến sĩ miền Đông Nam bộ đầu tiên của đoàn tàu không số ở Phước Hải huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu là 6 hộp sữa bò, 12 cheo lưới, 6 bộ quần áo, 6 giấy thế thân, đã bí mật vượt biển ra Bắc...

Chỉ bằng chiếc ghe mui trần, không la bàn từ dẫn, hành trang của 6 chiến sĩ miền Đông Nam bộ đầu tiên của đoàn tàu không số ở Phước Hải huyện Long Đất (nay là huyện Đất Đỏ) tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu là 6 hộp sữa bò, 12 cheo lưới, 6 bộ quần áo, 6 giấy thế thân, đã bí mật vượt biển ra Bắc tiếp nhận vũ khí. Họ ra đi với lòng yêu nước nồng nàn và tình yêu quê hương vô hạn.

Lời thề danh dự

Trong căn nhà nhỏ nghĩa tình do Lữ đoàn 125 trao tặng ở thị trấn Phước Hải, câu chuyện mà chúng tôi nghe đại úy Nguyễn Sơn-nguyên là thuyền trưởng đoàn tàu không số vượt biển từ bến Lộc An xã Phước Hải, huyện Long Đất (nay là huyện Đất Đỏ) tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu kể không phải là những tấm huy chương hay thành tích, mà là tinh thần chiến đấu dũng cảm ngoan cường của 6 chiến sĩ trên chiếc ghe mui trần vượt biển ra Bắc tiếp nhận vũ khí đạn dược chi viện cho chiến trường miền Nam.

Những câu chuyện về Đường Hồ Chí Minh trên biển - Kỳ 4: Cuộc vượt biển đẫm nước mắt ảnh 1

Ông Nguyễn Sơn luôn trân trọng những tấm huy chương.


Nhấp ngụm nước trà xanh, ông Sơn bảo “Chuyện về Đoàn tàu không số thì nhiều lắm, bây giờ các chú muốn tui kể chuyện gì nào? Nói thiệt chớ, đã 50 năm rồi, nhưng cuộc vượt biển ngày ấy không bao giờ quên được. Trên chuyến tàu của tui ngày ấy, bây giờ chỉ còn lại 3 người, tôi, anh Lê Hà, và Thôi Văn Nam. Chiến tranh triền miên ác liệt, sống và trở về là tốt lắm rồi”. Câu chuyện ông Sơn kể bắt đầu bằng chiến dịch “Thiết xa vận” của địch.
Năm 1961, cuộc chiến đấu của nhân dân ta ở giai đoạn ác liệt. Đế quốc Mỹ ồ ạt tấn công miền Nam Việt Nam với mục đích “Biến miền Nam thành thuộc địa của chúng”. Chúng mở rộng chiến dịch “Thiết xa vận” đưa xe tăng, xe bọc thép đánh vào căn cứ đầu não của ta ở khắp các chiến trường Nam bộ. Trong khi việc vận chuyển vũ khí bằng đường Trường Sơn gặp muôn vàn trở ngại do địch bắn phá quyết liệt, Quân ủy Trung ương quyết định vận chuyển vũ khí đạn dược bằng đường biển.

Cùng với các hướng ở các tỉnh Cà Mau, Bến Tre, hướng vượt biển ở Phước Hải huyện Long Đất tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu do chiến sĩ Nguyễn Sơn chỉ huy và 5 chiến sĩ khác là Thôi Văn Nam, Trần Văn Phủ, Nguyễn Văn Thanh, Võ An Ninh, Lê Hà ở đơn vị 555- một đơn vị đặc biệt có mật hiệu CR, thành lập một đoàn vượt biển ra Bắc. Lúc đó Nguyễn Sơn 21 tuổi là đảng viên, 5 chiến sĩ khác có 2 đoàn viên và 3 quần chúng. Ngày 17/2/1962, từ cửa biển Lộc An, 6 chiến sĩ đã bí mật xuống ghe vượt biển ra Bắc. Mỗi người đem theo một hộp sữa bò, 6 bộ quần áo, 12 cheo lưới, 6 giấy thế thân (giấy căn cước) và tình yêu Tổ quốc vô hạn. Buổi sáng trước ngày đi, 6 chiến sĩ được Đại đội trưởng Dương Nam Đông gặp gỡ và động viên “Các đồng chí yên tâm đi làm nhiệm vụ, Đảng và đơn vị rất tin tưởng các đồng chí, nhất định các đồng chí sẽ hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ và trở về”. Sơn và 5 chiến sĩ chạy ra trước cột cờ, không ai bảo ai, mắt hướng lên nhìn cờ Tổ quốc. Sơn thề “Chúng tôi ra đi là vì Tổ quốc, chúng tôi sống chết cũng vì Tổ quốc, chuyến đi này nhất định thắng lợi. Dù phải hi sinh cũng chiến đấu đến cùng, đó là lời thề danh dự của chúng tôi”.

Họ đi trên chiếc ghe mui trần suốt 5 ngày đêm vượt qua bao sóng gió mà không ai nản lòng. Bởi ai cũng nghĩ, dù phải chết cũng quyết tâm ra Bắc tiếp nhận vũ khí. Đó là danh dự, là lời thề thiêng liêng của người lính, một khi đã ra đi thì không bao giờ lùi bước. Khi ghe đến Vịnh Cam Ranh (Khánh Hòa) máy tàu bị hỏng. Đúng lúc ấy bị thủy quân lục chiến của địch phát hiện. Chúng bắt 6 chiến sĩ đem giam vào nhà lao Khánh Hòa. Đó là vào sáng 5/3/1962. Tình huống vô cùng gay cấn, 6 chiến sĩ bấm bụng không thể để lộ bí mật và sẵn sàng hi sinh. Muốn không để lộ tung tích là quân giải phóng miền Đông Nam bộ, bằng mọi cách phải hủy 6 bộ quần áo. Sơn đã bàn với chiến sĩ Lê Hà giả vờ đau bụng. Sơn liều đến cánh cửa nhà lao hô to “Mở cửa, mở cửa. Hồi chiều các ông cho chúng tôi ăn gì mà giờ đau bụng quá. Mở cửa để chúng tôi đi ỉa”. Tên gác thăm dò hồi lâu rồi mở cửa. 6 chiến sĩ nhanh chóng chạy ra bờ sông “đi ỉa” và bí mật dìm bộ quần áo giải phóng xuống bùn đen, trong khi những con mắt cú vọ của bọn lính canh gác trên bờ kè không hề rời các chiến sĩ.

Những câu chuyện về Đường Hồ Chí Minh trên biển - Kỳ 4: Cuộc vượt biển đẫm nước mắt ảnh 2

6 chiến sĩ đầu tiên của đoàn tàu không số. Chiến sĩ Nguyễn Sơn đứng ngoài cùng bên phải. ảnh: mai thắng chụp lại


Biết không khai thác được thông tin gì từ “mấy thằng ngư dân đánh cá”, bọn địch đã thả 6 chiến sĩ. Đó là một buổi sáng khi bình minh đỏ ối phía chân trời. Cánh cửa sắt rợn người kẹt mở. Một tên địch đứng trước cửa hét “Cho chúng mày đi”. Sơn và 5 chiến sĩ chạy ra cửa nhà tù. Ánh bình minh sáng chói hắt vào mắt, biển trời rộng lớn bao la. Trấn tĩnh giây lát, Sơn dẫn 5 chiến sĩ ra phía vịnh Cam Ranh tìm ghe để tiếp tục hành trình. Suốt gần 3 tháng trong tù đói khổ thiếu ánh sáng, nhưng không làm ý chí của các chiến sĩ lung lay, ngược lại càng thôi thúc trong tim họ tình yêu Tổ quốc. Sơn và đồng đội của anh bước vào cuộc chiến đấu mới.

Nước tiểu chống khát

Rời Vịnh Cam Ranh, trên trời nắng chang chang, dưới biển nước bốc hơi nóng. Một bao gạo, 1 can nước, 2 can dầu, ít rau nhặt từ chợ, các anh xuống ghe tiếp tục hành trình đem theo lý tưởng “Phải đến được miền Bắc xã hội chủ nghĩa”. Vừa đi vừa bí mật tiếp cận dò la tin tức, móc nối với cách mạng. Nước uống dù tiết kiệm lắm cũng chỉ được 2 tuần. Không thể chết vì khát, các chiến sĩ đã uống nước tiểu của mình. “Các chú biết không, uống nước tiểu vào, mình đái ra nó khai vô cùng. Nhưng nước tiểu cũng không có nữa, vì có gì uống đâu mà đái ra được. Lúc đó tôi đã nghĩ đến nấu nước biển như nấu rượu để lấy nước ngọt. Tôi dùng cái nồi nấu cơm, đổ nước biển trong đó, úp vung lên và nấu. Hơi nước ngọt ngưng tụ trên nắp vung. 6 chúng tôi liếm nắp vung nhưng không hết lượt. Không phải là thừa nước, mà là nhường nhịn nhau vì thương nhau quá. Anh em nhìn nhau trào nước mắt. Càng trào nước mắt, càng quyết tâm vượt biển đến hơi thở cuối cùng”. Giọng ông Sơn chùng xuống nghèn nghẹn. Ông nhìn chúng tôi rồi nhìn xuống tấm ảnh kỷ niệm ông và 5 đồng đội chụp trước ngày chia tay gia đình ra đi.

Sau 73 ngày gian nan, 6 chiến sĩ lạc vào đảo Hải Nam (Trung Quốc), được bộ đội và người dân cho ăn uống và quần áo mặc. Tại đây các chiến sĩ đã được gặp đồng chí Phạm Hùng, (Ủy viên Bộ chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ) lúc đó. Đồng chí Phạm Hùng hỏi “Các đồng chí từ đâu tới, cứ nói thật” thì anh em rất mừng, biết là người của mình mới xưng là đồng chí. Chiến sĩ Nguyễn Sơn báo cáo “Chúng tôi là quân giải phóng được cử ra Bắc để tiếp nhận vũ khí”. Đợi 2 ngày sau khi làm xong các thủ tục cần thiết và hộ chiếu, 6 chiến sĩ được đồng chí Phạm Hùng đưa về Hà Nội bằng xe lửa. Tại đây anh em được học tập chính trị và giác ngộ cách mạng.

Chuyến tàu chở vũ khí từ Hải Phòng vào cập bến Lộc An ngày 3/10/1963, tức là hơn một năm kể từ ngày 6 chiến sĩ xuống ghe vượt biển. Khi nói về sự gian lao vất vả những ngày vượt biển, ông Nguyễn Sơn tự hào “ Đời chú tự hào nhất là những năm tháng chiến đấu ở đoàn tàu không số. Ngày ấy nói đến đi đánh giặc là háo hức lắm. Bây giờ nhìn lại, chỉ tiếc ngày ấy mình không được cống hiến nhiều hơn. Lần vượt biển ra Bắc ấy là đáng nhớ nhất, đó là cuộc vượt biển đẫm nước mắt nhiều nhất”.

Mai Thắng

Không một lá thư, không một dòng địa chỉ, họ yêu nhau trong biền biệt cách xa, để rồi sau 15 năm đợi chờ, tình yêu ấy nở hoa trong ngày đại thắng. Đó là chuyện tình thời chiến tranh của đại úy Nguyễn Sơn – thuyền trưởng đầu tiên của đoàn tàu không số và nữ y sĩ Nguyễn Thị Phương ở đơn vị 555 khu căn cứ Minh Đạm huyện Long Đất (nay là huyện Đất Đỏ) tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.

Kỳ 5: “ Lời người ra đi”