Cuộc đời bà gắn liền với những lần tải đạn, góp phần vào thắng lợi của chiến dịch Bình Giã năm 1963. Câu chuyện về má Mười Riều hiến hơn 20 cây vàng để mua gỗ đóng tàu, là một huyền thoại đẹp đẽ, hiện thân sức mạnh của người Phụ nữ Việt Nam. Nếu không có tình yêu Tổ quốc nồng nàn, bà không thể làm được những điều kỳ diệu như thế.
“Nói đánh Mỹ là tui sướng nhất”
“Mấy tháng nay, ngày nào cũng có phóng viên đến thăm và hỏi chuyện má. Má chuẩn bị nồi chè xanh này cho các con nè, trời nắng lắm. Từ hôm Đài truyền hình TP Hồ Chí Minh cho đi giao lưu tới giờ, má khỏe hẳn ra. Má như sống lại những ngày cùng các đồng chí bộ đội vận chuyển vũ khí cho chiến dịch Bình Giã”. Xúc động, ngỡ ngàng, cảm phục, là cảm giác đầu tiên khi chúng tôi nghe má Mười nói như vậy.
Má Mười Riều kể chuyện vận chuyển vũ khí tại bến Lộc An năm 1963. |
Và không thể ngờ được ở cái tuổi 92 răng rụng hết phân nửa, nhưng má Mười vẫn minh mẫn sôi nổi kể chuyện chiến đấu, khi chúng tôi hỏi má về lần vận chuyển vũ khí cho chiến dịch Bình Giã. Câu chuyện má kể cho chúng tôi nghe chứa chan niềm tự hào của một nữ chiến sĩ đã xả thân cống hiến cho cách mạng. Má nói: “Cả đời tui đi theo cách mạng thấy mình tự hào lắm. Ngày ấy, nói đánh Mỹ là tui sướng nhất. Bây giờ nếu còn sức, tui vẫn đi, Tổ quốc cần, tui vẫn làm”.
Năm 1961, nữ chiến sĩ Nguyễn Thị Mười tròn 40 tuổi có chồng là Lê Văn Riều và con trai là Lê Hà cùng ở đơn vị 555 (sau này là đơn vị có phiên hiệu 1500). Lúc đó, việc đóng thuyền chở chiến sĩ bí mật vượt biển ra Bắc tiếp nhận vũ khí cực kỳ khó khăn. Đại đội trưởng Dương Nam Đông quán triệt: “Thực hiện chỉ thị của Trung ương Đảng và Bộ Quốc phòng, đơn vị chúng ta tổ chức vượt đường biển ra Bắc tiếp nhận đạn dược chi viện cho chiến trường miền Nam. Bây giờ phải có ghe. Đơn vị có ai có tiền không?”- “Có, tôi có 100 đồng”. Nữ chiến sĩ Nguyễn Thị Mười tự nguyện hiến 100 đồng để mua thuyền và xin làm hậu cứ bắt liên lạc, tiếp tế lương thực, tổ chức vận chuyển vũ khí khi đoàn tàu từ Bắc trở về.
Được người chỉ huy động viên như thổi thêm ngọn lửa cách mạng. Bà Mười đã về bàn với 2 cháu con trai của người chị gái dùng số tiền 100 đồng mua gỗ đóng thuyền, mua máy chạy ghe cùng 12 cheo lưới, 6 bộ quần áo nâu, làm 6 giấy tờ thế thân (giấy căn cước). Chuyến ghe đầu tiên bí mật vượt biển ra Bắc có 6 chiến sĩ là Nguyễn Sơn, Thôi Văn Nam, Trần Văn Phủ, Nguyễn Văn Thanh (tự Nhung), Võ An Ninh (tự Liễu) và con trai bà - Lê Hà. Cả 6 chiến sĩ đều mặc quần áo nâu giả làm ngư dân đánh bắt cá trên sông. Tiễn con trai và 5 đồng đội ra đi, bà động viên con: “Các con cứ đi chiến đấu, ở quê hương có má và dân làng lo. Cách mạng đang chờ các con, miền Nam đang cần vũ khí đạn dược để đánh Mỹ, cứ yên tâm mà đi”. Lời nói ấy tiếp thêm sức mạnh cho 6 chiến sĩ.
Trên chiếc ghe mui trần không la bà từ ấy, mỗi người đem theo 1 ống sữa bò, ít gạo, muối, 12 cheo lưới và lòng quê hương vô hạn.
Tấm lòng của má
“Các con biết không, nhà má có bao nhiêu tiền vàng đều cống hiến hết cho cách mạng. Mua thuyền, mua gỗ đóng thuyền phần lớn là tiền của gia đình. Lúc đó nhà có 20 cây vàng, và đôi bông tai của má, má đều bán lấy tiền mua gỗ đóng thuyền, mua gạo nấu cơm cho bộ đội. Má nghĩ thân mình chẳng tiếc tiếc chi tiền vàng. Có hiến bao nhiêu chăng nữa, cũng chẳng thấm gì so với sự gian khổ của các chiến sĩ ngoài mặt trận. Vàng bạc không quan trọng, mà đó là tấm lòng của má đối với cách mạng”. Má Mười ngẩng cao đầu nói như thế khi chúng tôi hỏi về số tiền gia đình má cống hiến cho cách mạng bao nhiêu.
Má Mười bên tấm ảnh kỷ niệm lần má ra Hà Nội dự Đại hội thi đua năm 1992 và được gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp. |
Để đón chuyến tàu chở vũ khí đầu tiên từ ngoài Bắc vào, má Mười đã bán 20 cây vàng và đôi bông tai để mua 6 tấn gạo cất giấu dự trữ. Chuyến vũ khí đầu tiên về bến Lộc An ngày 23/10/1963 do Lê Văn Một làm thuyền trưởng, chiến sĩ Nguyễn Sơn và con trai má- chiến sĩ Lê Hà là thủy thủ. Trên tàu chở 19 tấn vũ khí và 16 người. Khi thuyền vào đến của biển Lộc An, má đã bắt liên lạc và yêu cầu tuyệt đối bí mật, vì lúc này trên bờ có nhiều thám báo địch lùng sục khắp nơi. Má yêu cầu 2 chiến sĩ ở lại canh gác vũ khí và sẵn sàng hi sinh hủy tàu và vũ khí nếu bại lộ, còn 16 chiến sĩ bí mật tìm mọi cách vào bờ ăn cơm. Trong khi 16 chiến sĩ ăn cơm, má Mười cùng bà con chuyển vũ khí từ thuyền vào kho Vàm Láng cất giấu an toàn. Từ năm 1963 đến 1965, má Mười tổ chức đón và chuyển trên 50 tấn vũ khí của 3 lượt đoàn tàu không số. Số vũ khí sau đó được chuyển chi viện cho chiến trường miền Nam, 2 chuyến vũ khí sau cùng chi viện cho chiến dịch giải phóng Bình Giã.
| Má Mười Riều lò dò đến bên bàn thờ. Bàn tay nhăn nhúm sờ lên tấm ảnh má cùng đồng đội lần ra Hà Nội gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Chủ tịch nước Lê Đức Anh. Má nhìn những tấm ảnh đen trắng của má ghi dấu một thời trận mạc. Ánh mắt má ánh lên hình ảnh Tổ quốc và bao đồng đội thân thương đã nằm xuống cho đất nước thanh bình.mai thắng |
Cuối năm 1965, má Mười bí mật chuyển vào hoạt động tại chiến khu D. Tại đây má tiếp tục xây dựng lực lượng, tổ chức nuôi dưỡng chiến sĩ cách mạng hoạt động ngoại tuyến. Thời gian này lương thực thực phẩm vô cùng khó khăn, bộ đội phải ăn rau tàu bay, bản thân má cũng phải nhai nhiều rễ cây rừng và uống nước suối. Sau nhiều trận sốt rét, răng má rụng gần hết. “Thấy răng tui rụng gần hết, ông Đông bảo: Mười ơi, tao cho mày ít tiền, mày đi trồng răng nhé. Tôi bảo thân tui chẳng tiếc, tiếc gì hàm răng”. Má Mười cười phơi phới niềm vui nói với chúng tôi.
Suốt thời gian hoạt động bí mật trong rừng, má và ông Lê Văn Riều không hề gặp nhau. Má không ngờ rằng ngày gặp lại chồng tại bến Lộc An cuối năm 1965 đó là lần gặp cuối. Chồng má hi sinh trong một trận địch càn quét. Để má tiếp tục yên tâm chiến đấu, đơn vị không cho má biết. 4 năm sau kể từ khi chồng hi sinh, đơn vị mới cho hay. Lúc đó con trai Lê Hà đã 31 tuổi. Đất nước chưa được giải phóng, nhiệm vụ cách mạng mang nặng hai vai, biến đau thương thành hành động cách mạng, má tiếp tục chiến đấu. Ngày 29/4/1975 giải phóng Vũng Tàu Côn Đảo, nước mắt má tuôn trào bên đồng đội. Người còn người mất, người vĩnh viễn nằm lại chiến trường. 6 chiến sĩ đầu tiên của đoàn tàu không số vượt biển trên chiếc ghe má đóng chỉ còn 3. Ông Nguyễn Sơn, Thôi Văn Nam, và con trai má -
Lê Hà.
Kỳ 11: Cánh chim đầu đàn đoàn tàu không số