Sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo (AI), thương mại điện tử, công nghiệp bán dẫn, dịch vụ số và các mô hình kinh doanh dựa trên nền tảng công nghệ đang làm thay đổi sâu sắc cách thức tạo ra giá trị. Trong đó, dữ liệu chính là nguyên liệu đầu vào không thể thiếu. Một hệ thống AI muốn hoạt động hiệu quả cần có dữ liệu đủ lớn, đủ sạch và đủ chất lượng. Một doanh nghiệp muốn dự báo nhu cầu thị trường, tối ưu hóa sản xuất, giảm chi phí và tiếp cận khách hàng chính xác hơn cũng phải dựa vào khả năng thu thập, phân tích và khai thác dữ liệu. Nói cách khác, trong nền kinh tế số, ai có khả năng quản trị, làm chủ và khai thác dữ liệu hiệu quả, người đó có thêm lợi thế trong cạnh tranh và phát triển.
Nhận thức rõ xu thế đó, Việt Nam đã có những bước đi quan trọng về xây dựng thể chế và hạ tầng dữ liệu. Luật Dữ liệu số 60/2024/QH15 có hiệu lực từ ngày 1/7/2025, tạo hành lang pháp lý cho việc xây dựng, phát triển, bảo vệ, quản trị, xử lý và sử dụng dữ liệu số; Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân số 91/2025/QH15 có hiệu lực từ ngày 1/1/2026, xác lập những quyền cơ bản của cá nhân đối với dữ liệu của mình. Đặc biệt, ngày 18/7/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1308/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược dữ liệu quốc gia giai đoạn 2026–2030, tầm nhìn đến năm 2045, trong đó xác định dữ liệu là tài nguyên chiến lược, tư liệu sản xuất mới và động lực quan trọng cho quản trị quốc gia, phát triển kinh tế số, xã hội số và trí tuệ nhân tạo. Mục tiêu đặt ra là hình thành hệ sinh thái dữ liệu quốc gia thống nhất, hiện đại, an toàn, tin cậy, liên thông và dùng chung.
Đây là bước chuyển mang tính bước ngoặt trong tư duy phát triển, trong đó nhấn mạnh dữ liệu không chỉ phục vụ công tác quản lý nhà nước mà phải được khai thác như một nguồn lực tạo ra giá trị mới cho nền kinh tế. Tuy nhiên, từ chủ trương đến thực tiễn vẫn còn một khoảng cách cần được thu hẹp. Một trong những thách thức lớn nhất hiện nay là tình trạng dữ liệu còn phân tán ở nhiều cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp; thiếu tính đồng bộ, thống nhất về tiêu chuẩn, cấu trúc và khả năng kết nối. Không ít cơ sở dữ liệu được xây dựng theo nhu cầu riêng của từng ngành, từng lĩnh vực, từng địa phương, nhưng chưa hình thành được một hệ thống chia sẻ và khai thác thông suốt.
Trong bối cảnh đó, vấn đề không còn đơn thuần là số hóa bao nhiêu hồ sơ, xây dựng bao nhiêu cơ sở dữ liệu hay đầu tư bao nhiêu trung tâm dữ liệu, mà quan trọng hơn là dữ liệu có được kết nối, chia sẻ, cập nhật và sử dụng hiệu quả hay không. Muốn đánh thức nguồn lực từ tài nguyên dữ liệu, trước hết phải giải quyết bài toán liên thông và do đó cần đẩy nhanh chuẩn hóa các cơ sở dữ liệu quốc gia và chuyên ngành, thống nhất tiêu chuẩn kỹ thuật, định danh, phân loại và phương thức kết nối. Các cơ quan nhà nước phải chuyển mạnh từ tư duy quản lý dữ liệu theo phạm vi riêng sang tư duy quản trị dữ liệu như một nguồn lực chung, được chia sẻ và khai thác theo quy định.
Đặc biệt, cần thực hiện thực chất nguyên tắc dữ liệu chỉ được cung cấp một lần, các cơ quan có trách nhiệm khai thác và sử dụng lại thông tin đã có, thay vì yêu cầu người dân, doanh nghiệp liên tục kê khai. Khi dữ liệu dân cư, đất đai, doanh nghiệp, thuế, bảo hiểm, y tế và các lĩnh vực thiết yếu được kết nối hiệu quả, không chỉ thủ tục hành chính được đơn giản hóa mà chất lượng hoạch định chính sách, dự báo và điều hành kinh tế cũng được nâng lên.
Một yêu cầu khác là phải chuyển từ tư duy tích lũy dữ liệu sang tư duy tạo ra giá trị từ dữ liệu. Dữ liệu chỉ thực sự trở thành tài nguyên kinh tế khi được phân tích, xử lý và đưa vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh, nghiên cứu, đổi mới sáng tạo. Những bộ dữ liệu chất lượng có thể giúp doanh nghiệp dự báo xu hướng tiêu dùng, tối ưu hóa chuỗi cung ứng, phát triển sản phẩm mới; giúp ngành nông nghiệp dự báo mùa vụ, kiểm soát chất lượng và truy xuất nguồn gốc; giúp ngành giao thông tối ưu hóa luồng vận tải; giúp ngành y tế nâng cao chất lượng chẩn đoán và quản lý sức khỏe cộng đồng…
Mặt khác, cùng với việc xây dựng các cơ sở dữ liệu dùng chung, cần phát triển thị trường dữ liệu, các sản phẩm và dịch vụ dữ liệu, khuyến khích doanh nghiệp công nghệ, viện nghiên cứu, trường đại học tham gia phát triển các giải pháp khai thác dữ liệu. Việc mở dữ liệu công ở những lĩnh vực phù hợp, bảo đảm các điều kiện pháp lý và an toàn, cũng sẽ tạo thêm nguyên liệu cho nghiên cứu, sáng tạo và hình thành các mô hình kinh doanh mới.
Tuy nhiên, khai thác dữ liệu phải luôn đi cùng bảo vệ dữ liệu và đây là yêu cầu không thể tách rời bởi dữ liệu càng có giá trị thì nguy cơ bị đánh cắp, mua bán trái phép, sử dụng sai mục đích hoặc xâm phạm quyền riêng tư càng lớn. Chính vì lẽ đó, cần phân định rõ dữ liệu công, dữ liệu cá nhân, dữ liệu nhạy cảm và dữ liệu thuộc phạm vi bí mật nhà nước; xác lập quyền truy cập, chia sẻ, sử dụng theo từng cấp độ; tăng cường mã hóa, ẩn danh, kiểm soát truy cập và trách nhiệm giải trình của các chủ thể xử lý dữ liệu.
Nhìn rộng hơn, dữ liệu cũng đặt ra yêu cầu mới về chủ quyền quốc gia trong không gian số. Làm chủ dữ liệu không chỉ là lưu trữ dữ liệu ở đâu, mà còn là khả năng kiểm soát, quản trị, bảo vệ và khai thác dữ liệu bằng năng lực công nghệ của chính mình. Nếu phụ thuộc quá lớn vào nền tảng, công nghệ và dịch vụ dữ liệu bên ngoài, chúng ta có thể đánh mất một phần lợi thế cạnh tranh ngay trên nguồn tài nguyên do chính mình tạo ra.
Trong cuộc cạnh tranh của kỷ nguyên số, lợi thế không chỉ thuộc về quốc gia sở hữu nhiều dữ liệu, mà thuộc về quốc gia biết biến dữ liệu thành tri thức, tri thức thành công nghệ và công nghệ thành giá trị kinh tế. Việt Nam đã có hành lang pháp lý và chiến lược phát triển dữ liệu quốc gia. Điều cần thiết lúc này là tổ chức thực hiện quyết liệt, đồng bộ, khắc phục tình trạng cát cứ dữ liệu, đồng thời xây dựng môi trường khai thác dữ liệu minh bạch, an toàn và có trách nhiệm.
Đánh thức nguồn lực từ tài nguyên dữ liệu vì thế không chỉ là nhiệm vụ của ngành công nghệ thông tin hay các cơ quan quản lý chuyên ngành. Đó là yêu cầu chung đối với cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và mỗi người dân. Khi dữ liệu được kết nối, được bảo vệ và được khai thác đúng cách, nguồn tài nguyên vô hình ấy sẽ trở thành động lực hữu hình, góp phần nâng cao năng suất, sức cạnh tranh và năng lực tự chủ của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.