Bộ Nội vụ đang xây dựng dự thảo Nghị quyết về chế độ hỗ trợ đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động phải làm việc xa nơi cư trú do sắp xếp tổ chức bộ máy, đơn vị hành chính và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Theo dự thảo ngày 12/9/2026, người thuộc diện áp dụng phải di chuyển từ nơi cư trú đến nơi làm việc từ 30 km trở lên được đề xuất hỗ trợ chi phí đi lại từ 1 - 2 triệu đồng/tháng, tùy khoảng cách. Trường hợp phải thuê nhà ở nơi làm việc được hỗ trợ thêm 3 triệu đồng/tháng. Tổng mức hỗ trợ cao nhất có thể lên tới 5 triệu đồng/tháng, dự kiến áp dụng từ ngày 1/3/2025 đến hết ngày 28/2/2027.
Những con số ấy gợi ra một khía cạnh ít được nhắc tới phía sau quyết sách sắp xếp bộ máy: Khi nơi làm việc thay đổi, đời sống của người tiếp tục ở lại vận hành bộ máy cũng đổi thay. Cùng với việc giải quyết chế độ cho người dôi dư, hỗ trợ người phải đi làm xa là cách quan tâm cụ thể đến đội ngũ chịu tác động của quá trình cải cách. Chính vì thế, sắp xếp đơn vị hành chính là một chủ trương mang tầm chiến lược của Đảng và Nhà nước. Mục tiêu của tiến trình này là khắc phục sự manh mún, cồng kềnh, kiến tạo không gian phát triển mới và xây dựng một nền công vụ tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.
Có thể thấy, đến năm 2026, mô hình chính quyền địa phương hai cấp đã đi vào vận hành; yêu cầu đặt ra là tiếp tục hoàn thiện tổ chức và nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân. Không chỉ dừng lại ở địa phương, hệ thống các cơ quan trung ương cũng tiếp tục chuyển mình. Việc rà soát đầu mối bên trong các bộ, ngành, sắp xếp đơn vị sự nghiệp công lập cho thấy quyết tâm tinh gọn phải được thực hiện từ trên xuống dưới.
Theo đó, Nghị quyết số 221/NQ-CP ngày 9/8/2026 của Chính phủ tiếp tục đặt ra nhiệm vụ hoàn thiện, vận hành hiệu quả mô hình chính quyền địa phương hai cấp, đồng thời cơ cấu lại, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, nhất là ở cấp xã. Tinh gọn vì thế phải đi cùng với bố trí đúng người, đúng việc và bảo đảm điều kiện để người được giao nhiệm vụ hoàn thành công việc.
Thực tiễn tại các đô thị lớn cũng cho thấy, tinh gọn không phải là phép toán trừ cơ học. Tại Hà Nội, việc sắp xếp các phường ở khu vực trung tâm thuộc địa bàn Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng trước đây đặt ra yêu cầu tổ chức lại không gian quản lý, đồng thời giữ gìn những giá trị lịch sử, văn hóa đặc trưng. Sau sắp xếp, Hà Nội còn 126 xã, phường; nhiều nhiệm vụ được giải quyết trực tiếp tại cơ sở, tạo điều kiện để chính quyền gần dân hơn.
Trong khi đó, tại TP Hồ Chí Minh, công tác sắp xếp tiếp tục được cân nhắc trên cơ sở điều kiện thực tế. Sau khi rà soát 168 phường, xã, đặc khu, UBND Thành phố đã đề xuất giữ nguyên số đơn vị hành chính cấp xã hiện có. Điều đó cho thấy, yêu cầu nâng cao hiệu quả quản lý, chất lượng phục vụ người dân cần được xem xét cùng đặc điểm của từng địa bàn, thay vì chỉ chạy theo việc giảm số lượng đơn vị.
Tuy nhiên, mọi cuộc cải cách đều đi kèm với những áp lực và sự hy sinh thầm lặng. Đằng sau những bản đề án quy mô, những con số ngân sách được tiết kiệm là đời sống, sinh kế và tâm tư của những người chịu tác động. Có cán bộ, công chức phải thay đổi vị trí việc làm; có người đang là cấp trưởng chuyển sang làm cấp phó hoặc đảm nhận công tác chuyên môn khác. Với người dôi dư, việc rời vị trí đã gắn bó nhiều năm cũng là một thay đổi lớn trong cuộc sống và sự nghiệp.
Đó là chưa kể đến việc thay đổi trụ sở làm việc khiến nhiều cán bộ, viên chức phải thức dậy sớm hơn, di chuyển quãng đường xa hơn, đội mưa nắng đến cơ quan; quỹ thời gian dành cho gia đình và con cái hẹp lại. Chi phí đi lại, thuê nhà có thể trở thành gánh nặng kéo dài. Sự chông chênh, trăn trở trong giai đoạn giao thời là điều dễ hiểu. Nếu không được giải quyết thỏa đáng, những khó khăn ấy có thể làm suy giảm động lực cống hiến và ảnh hưởng đến chất lượng phục vụ nhân dân.
Thấu hiểu thực tiễn đó, việc giải quyết bài toán nhân sự không thể chỉ là một phép tính trừ cơ học. Sự quan tâm không dừng lại ở những lời động viên, mà cần được cụ thể hóa bằng chính sách thiết thực. Khoản hỗ trợ đi lại, thuê nhà được đề xuất có thể chưa bù đắp hết những xáo trộn của mỗi gia đình, nhưng cho thấy chi phí mà người lao động phải gánh chịu trong quá trình sắp xếp đã được tính đến. Khi gánh nặng kinh tế được san sẻ phần nào, họ sẽ có thêm điểm tựa để yên tâm gắn bó, tập trung vào nhiệm vụ.
Tuy nhiên, phạm vi của dự thảo hiện mới giới hạn ở người làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc diện sáp nhập, hợp nhất, tổ chức lại của một số hệ thống ngành dọc thuộc cơ quan trung ương, gồm Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và Kiểm toán nhà nước. Trong khi đó, khó khăn vì thay đổi nơi làm việc cũng hiện diện ở các địa phương. Từ thực tế ấy, cần tiếp tục xem xét chính sách hỗ trợ phù hợp cho những nhóm cán bộ, công chức, viên chức chịu tác động tương tự, bảo đảm đúng thẩm quyền và khả năng cân đối ngân sách.
Vấn đề cốt lõi vẫn là khâu thực thi. Quá trình rà soát, đánh giá năng lực để sắp xếp vị trí việc làm phải được tiến hành công tâm, khách quan, kiên quyết chống tư duy cào bằng, nể nang. Phải làm sao để giữ chân được những cán bộ tốt, có năng lực ngang tầm nhiệm vụ, tránh tình trạng “chảy máu chất xám”. Đồng thời, đối với cán bộ dôi dư, việc giải quyết đầy đủ, kịp thời các chế độ theo quy định chính là cách hành xử trọn vẹn lý tình.
Nền hành chính kiến tạo, phục vụ nhân dân chỉ có thể vững mạnh khi những người trực tiếp vận hành nó được chăm lo đúng mức. Những trợ lực thiết thực về vật chất và tinh thần lúc này không chỉ gỡ khó trong ngắn hạn, mà còn góp phần xây đắp niềm tin, khơi dậy khát vọng cống hiến, giúp bộ máy chính quyền mới hoạt động ổn định, hiệu quả.