Việt Nam đặt mục tiêu thuộc nhóm 10 quốc gia dẫn đầu châu Á về trí tuệ nhân tạo vào năm 2045

Ngày 28/8, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký Quyết định số 1671/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia về trí tuệ nhân tạo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Quyết định số 1671 đặt mục tiêu đưa trí tuệ nhân tạo trở thành động lực chiến lược quan trọng trong nâng cao năng suất, năng lực đổi mới sáng tạo, quản trị quốc gia và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Chú thích ảnh
Thử nghiệm robot công nghiệp tại Trung tâm Đào tạo, Nghiên cứu và Phát triển Ứng dụng Robot Công nghiệp và Trí tuệ nhân tạo (trường Đại học Bách khoa - Đại học Đà Nẵng). Ảnh minh họa: Khoa Chương/TTXVN

Theo Chiến lược, Việt Nam chuyển từ tư duy nghiên cứu, phát triển và ứng dụng trí tuệ nhân tạo sang nghiên cứu, phát triển trí tuệ nhân tạo và chuyển đổi toàn diện quốc gia bằng trí tuệ nhân tạo. Thay vì chỉ đưa trí tuệ nhân tạo vào các sản phẩm, dịch vụ, quy trình và hệ thống hiện có, định hướng mới là coi trí tuệ nhân tạo như một năng lực cốt lõi ngay từ khâu xác định bài toán, thiết kế, tổ chức và vận hành.

Trí tuệ nhân tạo được xác định là động lực quan trọng để tái thiết kế phương thức quản trị, sản xuất, kinh doanh và cung cấp dịch vụ; thúc đẩy tăng năng suất, nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, đổi mới sáng tạo, đồng thời hình thành các sản phẩm, dịch vụ và mô hình kinh doanh mới. Chiến lược lấy nhân lực, hạ tầng và dữ liệu làm nền tảng; lấy thể chế và quản trị trí tuệ nhân tạo làm khâu đột phá.

Phát triển nguồn nhân lực được coi là yếu tố nền tảng, có tính quyết định đối với nghiên cứu, phát triển trí tuệ nhân tạo và chuyển đổi trí tuệ nhân tạo quốc gia. Theo đó, Việt Nam tập trung phát triển nguồn nhân lực trí tuệ nhân tạo chất lượng cao, nhân tài và nhân lực tinh hoa; đẩy mạnh đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng kỹ năng trí tuệ nhân tạo cho lực lượng lao động và phổ cập kỹ năng này trong toàn xã hội.

Chiến lược đặt yêu cầu chuyển mạnh từ đào tạo các kỹ năng công nghệ riêng lẻ sang đào tạo năng lực tạo ra sản phẩm, dịch vụ và giá trị thực tiễn bằng trí tuệ nhân tạo; đồng thời có chính sách thu hút, trọng dụng các chuyên gia trí tuệ nhân tạo hàng đầu, chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia nước ngoài.

Doanh nghiệp trí tuệ nhân tạo Việt Nam được xác định là lực lượng chủ lực trong nghiên cứu, phát triển, triển khai và chuyển đổi trí tuệ nhân tạo quốc gia. Nhà nước khuyến khích doanh nghiệp chuyển từ việc bổ sung trí tuệ nhân tạo vào sản phẩm, dịch vụ và quy trình hiện có sang thiết kế sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh và phương thức quản trị lấy trí tuệ nhân tạo làm nền tảng ngay từ đầu; phát triển các doanh nghiệp vận hành dựa trên trí tuệ nhân tạo và các sản phẩm, nền tảng, dịch vụ, giải pháp trí tuệ nhân tạo “Make in Viet Nam”.

Đến năm 2030, Chiến lược đặt mục tiêu đưa Việt Nam trở thành một trong những trung tâm có năng lực nghiên cứu, phát triển, ứng dụng và đồng kiến tạo giá trị về trí tuệ nhân tạo trong khu vực Đông Nam Á và châu Á; hình thành năng lực quốc gia mạnh về nghiên cứu, phát triển, làm chủ, triển khai và quản trị trí tuệ nhân tạo.

Trí tuệ nhân tạo sẽ được tích hợp sâu, toàn diện vào hoạt động quản trị quốc gia, cung cấp dịch vụ công, sản xuất, kinh doanh, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và đời sống xã hội, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh quốc gia.

Việt Nam phấn đấu đến năm 2030 thuộc nhóm ba nước dẫn đầu Đông Nam Á về nghiên cứu và phát triển trí tuệ nhân tạo; 100% dịch vụ công trực tuyến được tích hợp, hỗ trợ bởi trí tuệ nhân tạo; 100% hồ sơ thủ tục hành chính được hỗ trợ xử lý bằng trí tuệ nhân tạo.

Cùng với đó, Việt Nam sẽ phát triển tối thiểu năm nền tảng trí tuệ nhân tạo dùng chung quốc gia; hình thành tối thiểu 10 thương hiệu trí tuệ nhân tạo của Việt Nam có năng lực cạnh tranh trên thị trường khu vực và quốc tế; phát triển tối thiểu tám mô hình trí tuệ nhân tạo tiếng Việt.

Đến năm 2045, Việt Nam đặt mục tiêu thuộc nhóm 10 quốc gia dẫn đầu châu Á về năng lực nghiên cứu, phát triển, làm chủ trí tuệ nhân tạo và chuyển đổi trí tuệ nhân tạo quốc gia. Trí tuệ nhân tạo trở thành động lực chiến lược quan trọng, góp phần nâng cao năng suất, năng lực đổi mới sáng tạo và năng lực kiến tạo giá trị quốc gia; góp phần đưa Việt Nam vượt qua bẫy thu nhập trung bình, trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045.

Theo định hướng của Chiến lược, đến giai đoạn này, trí tuệ nhân tạo trở thành nền tảng vận hành chủ đạo của Nhà nước, nền kinh tế và xã hội. Các thể chế, mô hình quản trị, quy trình nghiệp vụ, sản phẩm, dịch vụ, phương thức sản xuất, kinh doanh và hệ thống hạ tầng quan trọng từng bước được thiết kế, phát triển và vận hành trên nền tảng trí tuệ nhân tạo.

Việt Nam đồng thời hình thành hệ sinh thái doanh nghiệp trí tuệ nhân tạo và doanh nghiệp vận hành dựa trên trí tuệ nhân tạo có khả năng cạnh tranh ở khu vực và quốc tế; trở thành một trung tâm quan trọng về nghiên cứu, phát triển, sản xuất, cung cấp sản phẩm, dịch vụ và giải pháp trí tuệ nhân tạo của khu vực và thế giới.

Để thực hiện các mục tiêu này, Chiến lược xác định chín trụ cột gồm: phát triển nhân lực trí tuệ nhân tạo và kỹ năng trí tuệ nhân tạo toàn dân; dữ liệu và mô hình trí tuệ nhân tạo; hạ tầng trí tuệ nhân tạo; nghiên cứu, phát triển và làm chủ công nghệ; ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản trị quốc gia; chuyển đổi trí tuệ nhân tạo trong các ngành, lĩnh vực; hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, hợp tác xã tiếp cận và sử dụng trí tuệ nhân tạo; phát triển hệ sinh thái trí tuệ nhân tạo; quản trị trí tuệ nhân tạo an toàn, đáng tin cậy và có trách nhiệm.

Chiến lược cũng đưa ra sáu nhóm giải pháp đột phá. Trước hết là tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật, tạo hành lang pháp lý thông thoáng để phát triển nhanh và ứng dụng hiệu quả trí tuệ nhân tạo trong đời sống kinh tế - xã hội.

Cùng với đó là tăng cường điều phối quốc gia, xác định rõ trách nhiệm thực thi, trong đó người đứng đầu các bộ, ngành, địa phương trực tiếp chỉ đạo, tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về kết quả thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu và nhiệm vụ chuyển đổi trí tuệ nhân tạo được giao.

Nhà nước bảo đảm kinh phí cho các nhiệm vụ, giải pháp thuộc Chiến lược theo cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ, đấu thầu; đồng thời thúc đẩy hợp tác công - tư, thu hút các quỹ đầu tư quốc tế và nghiên cứu cơ chế hỗ trợ lãi suất, ưu đãi thuế đối với hoạt động nghiên cứu, phát triển, ứng dụng và quản lý trí tuệ nhân tạo.

Các giải pháp khác gồm đẩy mạnh hợp tác quốc tế, xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn; thiết lập các chương trình hợp tác song phương, đa phương về trí tuệ nhân tạo; tăng cường trao đổi nghiên cứu sinh, kỹ sư, nhà khoa học với các trung tâm nghiên cứu hàng đầu thế giới; nâng cao nhận thức, hình thành văn hóa sử dụng trí tuệ nhân tạo có trách nhiệm; xây dựng và định kỳ cập nhật các chỉ tiêu đánh giá mức độ chuyển đổi trí tuệ nhân tạo của bộ, ngành, địa phương và quốc gia phù hợp với thực tiễn và thông lệ quốc tế.

TTXVN/Báo Tin tức và Dân tộc
 'Sản phẩm công nghệ số Make in Viet Nam' 2026: Mở rộng sân chơi cho sản phẩm trí tuệ nhân tạo
'Sản phẩm công nghệ số Make in Viet Nam' 2026: Mở rộng sân chơi cho sản phẩm trí tuệ nhân tạo

Giải thưởng “Sản phẩm công nghệ số Make in Viet Nam” năm 2026 bổ sung hạng mục “Sản phẩm trí tuệ nhân tạo xuất sắc”, mở rộng cơ hội để các sản phẩm AI nổi bật được tôn vinh, đồng thời thúc đẩy ứng dụng công nghệ số và làm chủ các công nghệ chiến lược.

Chia sẻ:

doanh nghiệp - Sản phẩm - Dịch vụ

Các đơn vị thông tin của TTXVN